Chuyển đến nội dung chính
CƠ KHÍ.NET
Thiết kế & chế tạo máy

Phá huỷ mỏi và dão: tải đổi chiều hay tải giữ nguyên, và mặt gãy nói gì

Nguyễn Đỗ Tùng

Biên soạn có hỗ trợ công cụ · nguồn dẫn kèm · cập nhật

Theo Antunes, chi tiết chịu tải chu kỳ phải thiết kế để chịu mỏi: vết nứt lan dần tới khi hỏng. Theo Langdon, dão là biến dạng dẻo tích dần theo thời gian dưới ứng suất thấp hơn ứng suất phá huỷ, không hồi phục, do khuếch tán chi phối nên đặc biệt quan trọng ở nhiệt độ cao.

Kết luận trên đúng khi nói về vật liệu kim loại kết tinh, theo ba bài báo truy cập mở của ngành vật liệu. Trị số bên dưới gắn với đúng mác vật liệu và đúng nhiệt độ thí nghiệm mà nguồn nêu, không phải trị số dùng chung. Nguồn đã kiểm không cho giới hạn mỏi theo mác thép, không cho đường cong tuổi thọ, không cho công thức tính tuổi thọ dão; bài không nêu những thứ đó. Ranh giới giữa hai kiểu hỏng cũng không sắc: nứt do dão và mỏi nằm trên một dải điều kiện tải.

Bảng đối chiếu phá huỷ mỏi và dão

Tiêu chíPhá huỷ mỏiDão
Loại tảiTải chu kỳ; chi tiết và kết cấu chịu tải lặp phải được thiết kế để chịu mỏi [3]Ứng suất đặt vào thấp hơn ứng suất phá huỷ, vật liệu biến dạng dần [1]
Biến số chínhSố chu kỳ và biên độ biến dạng [2]; tốc độ lan nứt theo chu kỳ [3]Thời gian: biến dạng dẻo tích luỹ trong một khoảng dài [1]
Vai trò nhiệt độNhiệt độ là một trong các yếu tố chi phối cơ chế cạnh tranh, cùng vật liệu, thông số tải, hình học và môi trường [3]Quá trình dão do khuếch tán chi phối; xảy ra ở mọi nhiệt độ trên không tuyệt đối nhưng đặc biệt quan trọng từ khoảng 0,4 T_m trở lên, với T_m là nhiệt độ nóng chảy tuyệt đối của vật liệu [1]
Biến dạng có hồi phục khôngNguồn không nêu theo cách nàyBiến dạng dẻo do dão không hồi phục được [1]
Diễn biến theo thời gianNhiều vết nứt mỏi ngắn cỡ tổ chức sinh trên bề mặt; một phần nhỏ thành nứt ngắn vật lý; một hoặc vài vết thành nứt dài gây hỏng [2]Ba vùng: dão sơ cấp tốc độ giảm dần, dão thứ cấp tốc độ gần như không đổi, dão cấp ba tốc độ tăng nhanh tới gãy [1]
Đường đi của vết nứtNứt giai đoạn I chạy dọc dải trượt bền sâu 1–2 đường kính hạt, rồi thành nứt giai đoạn II lan xuyên hạt, vuông góc với ứng suất chính lớn nhất [2]Khi độ dẻo dão thấp, lỗ rỗng dão hình thành ở biên hạt [2]; khi độ dẻo dão cao, rỗng hình thành chủ yếu tại tạp chất do tách liên kết hạt–nền và nứt do dão thiên về xuyên hạt [2]
Dạng hư hại quan sát đượcVết nứt; cơ chế gồm biến dạng dẻo chu kỳ, sinh và hợp nhất lỗ rỗng vi mô, hư hại do môi trường, phá huỷ giòn [3]Hai dạng: hốc trên biên hạt, biên block, biên lath; hoặc rỗng do tách liên kết hạt–nền [2]
Thời điểm xuất hiện hư hạiNguồn không nêu theo cách nàyHốc ở biên xuất hiện tương đối sớm khi độ dẻo dão thấp, dùng được để đánh giá tuổi thọ còn lại; rỗng do tách liên kết hạt–nền thường xuất hiện muộn [2]
Ví dụ có ngữ cảnh trong nguồnNứt ngắn vật lý dài tối đa khoảng 250 µm với thép rôto 1CrMoV [2]Hư hại liên hạt ở thép 1CrMoV tại 565 °C, thép 9CrMoVNb tại 600 °C, hợp kim NiCr23Co12Mo tại 700 °C; hư hại xuyên hạt ở thép 2CrMoNiWV dẻo dão tại 550 °C [2]

Nguồn [1]–[3] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Mốc 0,4 T_m là mốc chung của bài tổng quan [1]. Các mác vật liệu và nhiệt độ ở hàng cuối là chú thích hình của [2], mỗi mục gắn với một thí nghiệm.

Vì sao một bên đếm chu kỳ còn một bên đếm giờ?

Langdon đặt định nghĩa dão vào một câu đối lập. Khi vật liệu kết tinh chịu ứng suất rất cao, nó gãy tức thời; nhưng nếu ứng suất đặt vào thấp hơn ứng suất phá huỷ thì vật liệu biến dạng dần, và quá trình đó gọi là dão [1]. Biến dạng dẻo do dão sinh ra không hồi phục được và tích luỹ trong một khoảng thời gian dài [1]. Cũng nguồn đó ghi các quá trình dão do khuếch tán chi phối, nên tuy xảy ra ở mọi nhiệt độ trên không tuyệt đối, chúng trở nên đặc biệt quan trọng ở nhiệt độ cao, thường là từ khoảng 0,4 T_m trở lên, với T_m là nhiệt độ nóng chảy tuyệt đối của vật liệu [1].

Mỏi bắt đầu từ phía khác. Antunes viết chi tiết máy và kết cấu chịu tải chu kỳ trong nhiều ứng dụng nên phải được thiết kế để chịu mỏi [3]. Trong cách tiếp cận dung sai hư hỏng, người ta giả thiết đã có vết nứt ban đầu bên trong mẫu và nó lan ra, cuối cùng dẫn tới hỏng [3]; muốn định được khoảng thời gian giữa hai lần kiểm tra hoặc thời điểm thay chi tiết thì phải biết chính xác tốc độ lan nứt mỏi [3].

Cách hiểu của bài: hai hiện tượng dùng hai loại đồng hồ. Mỏi đếm số lần tải đổi; dão đếm thời gian chi tiết nằm dưới tải. Vì vậy hai câu hỏi bảo trì cũng khác nhau: với mỏi là "chi tiết đã chạy bao nhiêu chu kỳ", với dão là "chi tiết đã ở nhiệt độ đó bao lâu và dưới ứng suất nào". Cách tính mỏi cho một chi tiết đàn hồi cụ thể xem ở lò xo và độ bền mỏi theo Goodman.

Ba vùng của đường cong dão cũng nằm trong bài tổng quan đó, cho dạng dão do chuyển động lệch. Sau biến dạng tức thời khi đặt tải, có vùng dão sơ cấp với tốc độ dão giảm dần theo thời gian; vùng dão thứ cấp hay dão ổn định, nơi tốc độ dão gần như không đổi và biến dạng tích được nhiều; rồi vùng dão cấp ba, nơi tốc độ dão tăng nhanh cho tới gãy [1]. Với dão khuếch tán, biến dạng cũng tăng theo thời gian nhưng không có vùng dão sơ cấp [1].

Mặt gãy nói gì: liên hạt hay xuyên hạt

Holdsworth mô tả đường đi của vết nứt mỏi theo hai giai đoạn. Nứt mỏi ngắn cỡ tổ chức ở giai đoạn I chạy dọc các dải trượt bền tới độ sâu khoảng một đến hai đường kính hạt, rồi thành nứt giai đoạn II lan theo kiểu xuyên hạt, vuông góc với ứng suất chính lớn nhất [2]. Cũng nguồn đó ghi trên bề mặt chi tiết chịu tải chu kỳ hình thành nhiều vết nứt mỏi ngắn cỡ tổ chức, chỉ một phần tương đối nhỏ trong số đó phát triển thành nứt ngắn vật lý, tuỳ biên độ biến dạng; và cũng tuỳ biên độ biến dạng, một hoặc vài vết nứt ngắn vật lý trở thành vết trội, kéo dài thành vết nứt dài gây hỏng [2]. Chiều dài lớn nhất của nứt ngắn vật lý có thể định bằng giản đồ Kitagawa, ví dụ khoảng 250 µm với thép rôto 1CrMoV [2].

Phía dão, Holdsworth chia hư hại thành hai kiểu: hốc trên biên hạt, biên block hoặc biên lath; và rỗng sinh ra do tách liên kết giữa hạt cứng và nền [2]. Kiểu nào chiếm ưu thế lại phụ thuộc độ dẻo dão của vật liệu. Khi độ dẻo dão cao, rỗng thường hình thành chủ yếu tại các tạp chất do tách liên kết hạt–nền, và nứt do dão thiên về xuyên hạt hơn là liên hạt [2]. Khi độ dẻo dão thấp, hốc dão thường hình thành ở biên hạt [2].

Đó là lý do không nên đọc mặt gãy theo một quy tắc ngắn. Cùng nguồn đó nêu thêm một ca đáng chú ý: ở thép mactenxit tiên tiến 9/11 % Cr, các hốc dão rất mịn còn hình thành trên biên lath và biên packet, và khi ấy nứt dão–mỏi có thể trông như xuyên hạt dù thực ra vết nứt phát triển dọc các biên đã bị hư hại do dão [2]. Chú thích hình của bài cho bốn ví dụ có đủ mác và nhiệt độ: hư hại xuyên hạt do tách liên kết hạt–nền ở thép 2CrMoNiWV dẻo dão tại 550 °C; hư hại liên hạt ở thép 1CrMoV tại 565 °C, ở thép 9CrMoVNb tại 600 °C và ở hợp kim NiCr23Co12Mo tại 700 °C [2]. Các phương pháp dò vết nứt mà không phá huỷ chi tiết xem ở kiểm tra không phá huỷ.

Thời điểm hư hại xuất hiện: một chỗ dùng được cho bảo trì

Holdsworth gắn hai kiểu hư hại dão với hai thời điểm khác nhau trong đời chi tiết. Khi độ dẻo dão của vật liệu thấp, hốc ở biên xuất hiện tương đối sớm, và chính điều đó cho một cách đánh giá tuổi thọ còn lại [2]. Ngược lại, rỗng do tách liên kết hạt–nền thường chỉ xuất hiện muộn trong đời chi tiết, thường ở vật liệu dẻo dão khi độ dẻo gần cạn [2].

Với mỏi, [3] mô tả bức tranh cơ chế phức tạp hơn một nhãn: hiện tượng này gồm nhiều cơ chế hư hại khác nhau như biến dạng dẻo chu kỳ, sinh và hợp nhất lỗ rỗng vi mô, hư hại do môi trường và phá huỷ giòn [3]. Các cơ chế che chắn ở đỉnh nứt, như phân nhánh nứt hoặc đóng nứt, cũng ảnh hưởng tới tốc độ lan nứt [3]; và những cơ chế cạnh tranh đó phụ thuộc nhiều vào vật liệu, thông số tải, hình học, môi trường và nhiệt độ [3]. Chính bài xã luận đó ghi vẫn cần thêm nghiên cứu để mô hình hoá chính xác tốc độ lan nứt mỏi và hiểu các cơ chế nền tảng [3].

Cách hiểu của bài: hai câu trên đặt ra giới hạn cho cách dùng bảng tra. Với dão, thứ đo được tại hiện trường là tổ chức tế vi và mức hư hại; với mỏi, thứ đo được là chiều dài vết nứt và lịch sử tải. Vật liệu và nhiệt luyện của trục chịu tải chu kỳ xem ở vật liệu và nhiệt luyện trục.

Bốn mẹo sai hay gặp khi đọc một chi tiết hỏng

Mẹo sai 1: "Tải không vượt giới hạn bền thì hỏng là do vật liệu kém." Langdon ghi ứng suất thấp hơn ứng suất phá huỷ vẫn làm vật liệu biến dạng dần, và biến dạng dẻo ấy không hồi phục, tích luỹ trong thời gian dài [1]. Antunes thì mô tả cách tiếp cận dung sai hư hỏng: giả thiết đã có vết nứt ban đầu trong chi tiết và nó lan ra cho tới khi hỏng [3].

Mẹo sai 2: "Dão chỉ xảy ra ở nhiệt độ rất cao." Cùng bài tổng quan ghi các quá trình dão xảy ra ở mọi nhiệt độ trên không tuyệt đối, và mốc khoảng 0,4 T_m là chỗ dão trở nên đặc biệt quan trọng, chứ không phải mốc bật tắt [1].

Mẹo sai 3: "Nứt chạy theo biên hạt thì đúng là dão." Holdsworth ghi khi độ dẻo dão cao, nứt do dão lại thiên về xuyên hạt hơn liên hạt [2]; và ở thép mactenxit 9/11 % Cr, nứt dão–mỏi có thể trông như xuyên hạt dù vết nứt thực ra chạy dọc các biên đã hỏng do dão [2].

Mẹo sai 4: "Thấy vết nứt là chi tiết sắp gãy." Holdsworth ghi trên bề mặt chi tiết chịu tải chu kỳ hình thành nhiều vết nứt mỏi ngắn cỡ tổ chức, chỉ một phần nhỏ phát triển thành nứt ngắn vật lý, và chỉ một hoặc vài vết trong số đó thành vết nứt dài gây hỏng, tuỳ biên độ biến dạng [2].

Bảng quyết định: thấy gì tại xưởng thì nghiêng về đâu

Đo hoặc thấy tại xưởngLàm gìCăn cứ
Chi tiết chịu tải đảo chiều, đếm được số chu kỳ làm việcXét mỏi; ghi số chu kỳ và biên độ vào hồ sơ chi tiếtChi tiết chịu tải chu kỳ phải được thiết kế để chịu mỏi [3]; số vết nứt phát triển tuỳ biên độ biến dạng [2]
Chi tiết chịu tải gần như không đổi, làm việc nóng, đo được nhiệt độ và thời gian vận hànhXét dão; ghi nhiệt độ và số giờ dưới tảiDão tích luỹ biến dạng theo thời gian [1]; đặc biệt quan trọng từ khoảng 0,4 T_m [1]
Chi tiết biến dạng dần, kích thước đổi mà không có vết nứt rõNghi dão trước khi nghi lắp saiBiến dạng dẻo do dão không hồi phục và tích trong thời gian dài [1]
Mặt gãy có vết nứt chạy xuyên qua hạt, vuông góc phương ứng suất chínhKhông kết luận ngay; đối chiếu với lịch sử tải trước khi gọi tên cơ chếNứt mỏi giai đoạn II lan xuyên hạt vuông góc ứng suất chính lớn nhất [2]; nứt do dão ở vật liệu dẻo dão cũng thiên về xuyên hạt [2]
Soi tổ chức thấy hốc trên biên hạtXét hư hại dão và khả năng đánh giá tuổi thọ còn lạiKhi độ dẻo dão thấp, hốc ở biên xuất hiện tương đối sớm, dùng được để đánh giá tuổi thọ còn lại [2]
Soi thấy rỗng bám quanh tạp chất, tổ chức còn lại khá lànhXét khả năng đang ở giai đoạn muộn của vật liệu dẻo dãoRỗng do tách liên kết hạt–nền thường xuất hiện muộn, khi độ dẻo gần cạn [2]
Chi tiết vừa chịu tải đổi vừa chịu giai đoạn giữ tải nóngKhông tách rời hai cơ chế khi phân tíchNứt dão–mỏi trải trên dải điều kiện tải từ chu kỳ thuần tới tải gần như không đổi có vài lần ngắt tải [2]
Cần tìm vết nứt mà không phá chi tiếtChọn phương pháp dò khuyết tật phù hợpKiểm tra không phá huỷ

Nguồn và giới hạn

Tra ngày 12/09/2026. Các câu dẫn đã được đối chiếu trên văn bản tải trực tiếp từ trang nguồn.

  • [1] Langdon, Review: developments in the creep of materials over a period of more than a century (Journal of Materials Science, truy cập mở): https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC12513960/ — định nghĩa dão và tính không hồi phục của biến dạng; vai trò khuếch tán và mốc khoảng 0,4 T_m; ba vùng của đường cong dão; khác biệt của dão khuếch tán.
  • [2] Holdsworth, Creep-Fatigue Failure Diagnosis (Materials, truy cập mở): https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC5458918/ — dải điều kiện tải của nứt dão–mỏi; hai kiểu hư hại dão và thời điểm xuất hiện; ảnh hưởng của độ dẻo dão tới kiểu nứt; hai giai đoạn của nứt mỏi; phân bố nhiều vết nứt ngắn trên bề mặt; ví dụ 250 µm với thép rôto 1CrMoV; chú thích hình với bốn mác vật liệu và nhiệt độ thí nghiệm.
  • [3] Antunes, Fatigue Crack Growth in Metallic Materials (Materials, truy cập mở, bài xã luận số chuyên đề): https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC9820982/ — chi tiết chịu tải chu kỳ phải thiết kế chịu mỏi; cách tiếp cận dung sai hư hỏng và nhu cầu biết tốc độ lan nứt; danh sách cơ chế hư hại; cơ chế che chắn đỉnh nứt; các yếu tố chi phối.
  • Tiêu chuẩn, chỉ dẫn tên và số hiệu: ISO 12106 Metallic materials — Fatigue testing — Axial-strain-controlled method; ISO 204 Metallic materials — Uniaxial creep testing in tension — Method of test; ASTM E139 Standard Test Methods for Conducting Creep, Creep-Rupture, and Stress-Rupture Tests of Metallic Materials. Tài liệu trả phí; bài không trích trị số.

Bảng này không dùng cho:

  • Giới hạn mỏi hay đường cong tuổi thọ của một mác thép: nguồn đã kiểm không cho trị số.
  • Tính tuổi thọ dão còn lại bằng công thức: bài không nêu công thức và không thế số vào công thức nào.
  • Nhiệt độ bắt đầu phải xét dão cho một mác cụ thể: [1] chỉ cho mốc chung theo nhiệt độ nóng chảy tuyệt đối.
  • Kết luận cơ chế hỏng chỉ từ ảnh mặt gãy: [2] nêu nhiều ca mà dấu hiệu trùng nhau.
  • Vật liệu phi kim, chất dẻo, bê tông: ba nguồn đều nói về vật liệu kim loại.
  • Ăn mòn ứng suất và mỏi có môi trường ăn mòn: chỉ được nhắc tên trong [3], không đối chiếu.

Không xác định được từ bài này: chi tiết đang hỏng tại xưởng thuộc cơ chế nào — phải có lịch sử tải, nhiệt độ vận hành và ảnh tổ chức tế vi; và tuổi thọ còn lại của chi tiết đó, vì nguồn chỉ nêu rằng hốc ở biên hạt cho một cách đánh giá, không cho quy tắc tính.

Cần chính xác hơn: cách tính bền mỏi cho chi tiết đàn hồi xem ở lò xo và độ bền mỏi theo Goodman; vật liệu và nhiệt luyện cho trục chịu tải chu kỳ xem ở vật liệu và nhiệt luyện trục.

Câu hỏi thường gặp

Dão là gì? Theo Langdon, khi vật liệu kết tinh chịu ứng suất thấp hơn ứng suất phá huỷ thì nó không gãy ngay mà biến dạng dần; quá trình đó gọi là dão. Biến dạng dẻo sinh ra không hồi phục được và tích luỹ trong khoảng thời gian dài.

Phá huỷ mỏi là gì? Là hỏng dưới tải chu kỳ. Antunes viết chi tiết máy và kết cấu chịu tải lặp phải được thiết kế để chịu mỏi, và trong cách tiếp cận dung sai hư hỏng, người ta giả thiết vết nứt ban đầu đã có sẵn và lan ra cho tới khi hỏng.

Dão bắt đầu từ nhiệt độ nào? Langdon ghi các quá trình dão do khuếch tán chi phối, xảy ra ở mọi nhiệt độ trên không tuyệt đối, nhưng trở nên đặc biệt quan trọng ở nhiệt độ cao, thường từ khoảng 0,4 T_m trở lên, với T_m là nhiệt độ nóng chảy tuyệt đối của vật liệu. Đó là mốc chung; mốc cho một mác cụ thể không có trong nguồn đã kiểm.

Đường cong dão có mấy vùng? Ba, theo [1], với dạng dão do chuyển động lệch: sau biến dạng tức thời khi đặt tải là vùng dão sơ cấp tốc độ giảm dần, vùng dão thứ cấp tốc độ gần như không đổi, rồi vùng dão cấp ba tốc độ tăng nhanh tới gãy. Riêng dão khuếch tán không có vùng sơ cấp.

Nhìn mặt gãy phân biệt được mỏi với dão không? Không chắc chắn bằng một dấu hiệu duy nhất. Holdsworth ghi nứt mỏi giai đoạn II lan xuyên hạt vuông góc với ứng suất chính lớn nhất [2], nhưng nứt do dão ở vật liệu có độ dẻo dão cao cũng thiên về xuyên hạt [2]; còn ở thép mactenxit 9/11 % Cr, nứt dão–mỏi có thể trông như xuyên hạt dù chạy dọc biên đã hỏng do dão [2].

Hốc dão ở biên hạt nói lên điều gì? Theo [2], khi độ dẻo dão của vật liệu thấp, hốc ở biên xuất hiện tương đối sớm trong đời chi tiết, nên chính chúng cho một cách đánh giá tuổi thọ còn lại. Rỗng sinh do tách liên kết giữa hạt cứng và nền thì thường xuất hiện muộn, ở vật liệu dẻo dão khi độ dẻo gần cạn.

Một chi tiết có thể vừa mỏi vừa dão không? Có. Holdsworth mô tả nứt dão–mỏi trải trên một dải điều kiện tải, từ tải chu kỳ thuần tới tải gần như không đổi có vài lần ngắt tải, và mỗi vùng của dải đó cần cách phân tích cơ học khác nhau.

Đọc tiếp

Thuộc chuyên trang: Thiết kế & chế tạo máyChi tiết máy