Chuyển đến nội dung chính
CƠ KHÍ.NET
Thiết kế & chế tạo máy

Phớt mê cung và phớt tiếp xúc: chặn bằng đường đi hay chặn bằng môi tì vào trục

Nguyễn Đỗ Tùng

Biên soạn có hỗ trợ công cụ · nguồn dẫn kèm · cập nhật

Phớt mê cung chặn bằng đường đi: khe hở và các rãnh nối nhau, không có bề mặt nào tì vào trục nên không sinh ma sát. Phớt tiếp xúc chặn bằng môi cao su tì vào mặt quay; nó giữ mỡ và chặn bẩn tốt hơn, đổi lại có ma sát, có mòn và có giới hạn nhiệt.

Kết luận trên đúng khi so hai kiểu làm kín cụm ổ lăn trên gối đỡ và trên thân máy: kiểu mê cung không tiếp xúc, đặt cạnh kiểu môi cao su tì vào mặt quay. Phạm vi nguồn là bài phân loại phớt ổ lăn của Regal Rexnord và hai catalogue của SKF cho gối đỡ và cho phớt trục công nghiệp. Nguồn không cho lượng rò tính bằng số của phớt mê cung, không cho tuổi thọ đối chứng giữa hai kiểu, và không so khe hở mê cung theo cỡ trục. Các trị số tốc độ vòng dưới đây gắn với một dòng gối đỡ cụ thể hoặc một kiểu phớt trục cụ thể, bài ghi rõ ngữ cảnh từng con số.

Bảng đối chiếu phớt mê cung và phớt tiếp xúc

Tiêu chíPhớt mê cung (không tiếp xúc)Phớt tiếp xúc
Cách chặnChuỗi rãnh và đường đi; nhiều thiết kế dùng mỡ hoặc dầu trong đường mê cung làm màng chắn bẩn, thiết kế khác dùng nỉ hay vật chắn có hệ số ma sát thấp [1]Một hoặc nhiều môi cao su chạm vào mặt vòng bi; có thiết kế cho môi tì vào một bề mặt phụ để kín hơn [1]
Cấu tạo trong gối đỡBộ mê cung toàn kim loại, vòng hất phía trong ép lên vòng trong của ổ giúp giữ mỡ và chắn bẩn; tấm ngoài đứng yên ép vào thân, chạy sát vòng trong của ổ để chặn bẩn [2]Phớt hai môi đúc chạy trên mặt đã mài của vòng trong; hoặc phớt một mảnh có lò xo vòng thép không gỉ giữ môi tì chặt vào vòng trong đã mài [2]
Mô men ma sát của phớtSKF ghi kiểu mê cung toàn kim loại hai mảnh không có mô men ma sát từ phớt [2]; Regal Rexnord xếp vào nhóm ma sát thấp, mô men thấp [1]Regal Rexnord ghi ma sát cao hơn loại không tiếp xúc [1]; trong cùng dòng gối đỡ, SKF ghi kiểu hai môi đúc có mô men ma sát thấp so với kiểu môi có lò xo [2]
Tốc độ hợp với kiểu nàoCho tốc độ làm việc cao [2]; hợp với ứng dụng tốc độ cao [1]Hợp hơn với tốc độ làm việc thấp và mô men quay cao [1]
Số của một dòng gối đỡ cụ thể, trục cỡ 1 7/16 in5 300 rpm [2]2 300 rpm cho kiểu hai môi đúc và 1 700 rpm cho kiểu môi có lò xo vòng [2]
Giữ mỡKém hiệu quả hơn ở việc giữ chất bôi trơn [1]; vòng hất phía trong giúp giữ mỡ [2]Giữ mỡ mạnh [1]; lò xo vòng giữ môi tì chặt nên giữ mỡ và bảo vệ tốt hơn [2]
Chặn bẩn nặngKém hiệu quả hơn khi bẩn nhiều [1]; bộ ba mảnh có tấm chắn đứng yên giữa hai vòng hất tạo đường đi khó để cản bẩn lọt vào [2]Chặn bẩn tốt, hợp môi trường bẩn hoặc ướt [1]; bố trí phổ biến nhất cho gối đỡ là phớt tiếp xúc một môi [1]
NhiệtSKF ghi kiểu này không có giới hạn nhiệt độ của bản thân phớt [2]Regal Rexnord ghi có khả năng làm nhiệt độ làm việc tăng lên [1]
Mòn khi chạyÍt mòn khi chạy [1]Nguồn không cho số; Regal Rexnord chỉ ghi ma sát cao hơn và nhiệt có thể tăng [1]
Khi bơm mỡ bổ sungÍt rủi ro hỏng phớt khi bơm mỡ lại [1]Có thể hỏng vì bôi trơn quá nhiều [1]; trục phải đang quay và bơm chậm bằng áp đường ống nhẹ [1]
Yêu cầu ở mặt đối tiếp trên trụcNguồn không soSKF nêu chuỗi yêu cầu cho mặt lắp phớt trục: độ nhám tính theo ISO 4288, độ không tròn nhỏ hơn 0,005 mm, mặt không xước, không nứt, không gỉ, không ba-via [3]
Đảo động và lệch trục so với lỗNguồn không soGây tải hướng kính không đều trên chu vi môi phớt [3]; ở tốc độ cao môi không bám kịp trục, sinh khe hở giữa môi và trục làm giảm khả năng làm kín [3]
Chênh áp qua phớtNguồn không soPhớt phải chịu thêm tải hướng kính do áp sinh ra [3]; loại tiêu chuẩn được định mức không quá 0,07 MPa ở 5 m/s [3]

Nguồn [1]–[3] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Ba con số rpm ở hàng thứ năm là của bảng giới hạn tốc độ cho một dòng gối đỡ của SKF, đọc theo đúng cỡ trục ghi trong hàng đó; đây không phải giới hạn chung cho hai kiểu phớt.

Chặn bằng khe hở hay chặn bằng lực tì

Regal Rexnord chia phớt ổ lăn thành hai kiểu và nói thẳng mỗi kiểu hợp với điều kiện nào [1]. Kiểu thứ nhất là mê cung, còn gọi là phớt không tiếp xúc: nó dùng một chuỗi rãnh hoặc đường đi; ở nhiều thiết kế, mỡ hoặc dầu trong đường mê cung tạo màng chắn bẩn, ở thiết kế khác thì dùng nỉ hoặc một vật chắn có hệ số ma sát thấp [1]. Kiểu thứ hai là tiếp xúc: một hoặc nhiều môi cao su chạm vào mặt vòng bi, và có thiết kế cho môi tì vào một bề mặt phụ để làm kín chặt hơn [1].

Catalogue gối đỡ của SKF cho thấy cách dựng bộ mê cung bằng kim loại. Bộ hai mảnh toàn kim loại được ghi là cho tốc độ làm việc cao [2]; vòng hất phía trong ép lên vòng trong của ổ giúp giữ mỡ và chắn bẩn [2], còn tấm ngoài đứng yên ép vào thân gối và chạy sát vòng trong của ổ để chặn bẩn [2]. Bộ ba mảnh thêm một tấm chắn đứng yên đặt giữa hai vòng hất, ép vào thân gối và tạo một đường đi khó để cản bẩn lọt vào [2]. Hai đặc tính SKF ghi kèm cho kiểu này rất gọn: không có mô men ma sát từ phớt, và không có giới hạn nhiệt độ của bản thân phớt [2].

Cách hiểu của bài: hai đặc tính đó là hệ quả trực tiếp của việc không có bề mặt nào trượt trên bề mặt nào — thứ sinh nhiệt và mòn ở phớt tiếp xúc chính là chỗ môi tì. Đổi lại, khe hở luôn còn đó, nên Regal Rexnord ghi kiểu mê cung kém hiệu quả hơn ở việc chặn bẩn nặng và ở việc giữ chất bôi trơn [1]. Hãng tóm bằng một câu đáng chép vào sổ tay: phớt mê cung hợp chỗ nào mà tốc độ và hiệu suất quan trọng hơn là mức bảo vệ nặng [1]. Và một câu nữa, đúng cho cả hai kiểu: khi khả năng làm kín tăng lên thì khả năng chịu tốc độ thường giảm xuống, nên phải biết tốc độ làm việc mới chọn được phớt [1].

Cụm làm kín trục quay bằng cách khác — vòng bện ép quanh trục — nằm ở bài tết chèn và phớt cơ khí; còn nắp chắn và phớt lắp sẵn trong bản thân vòng bi thì ở bài vòng bi nắp chắn ZZ và phớt 2RS.

Cái giá của tiếp xúc: nhiệt, bôi trơn thừa và yêu cầu ở mặt lắp phớt

Regal Rexnord liệt kê ba giới hạn của phớt tiếp xúc: ma sát cao hơn loại không tiếp xúc, có thể bị hỏng vì bôi trơn quá nhiều, và có khả năng làm nhiệt độ làm việc tăng lên [1]. Đổi lại là ba lợi thế: chặn bẩn tốt, giữ mỡ mạnh, hợp môi trường bẩn hoặc ướt [1]. Hãng cũng nêu quy tắc bơm mỡ lại cho cụm dùng phớt tiếp xúc: trục phải đang quay, và mỡ phải được bơm chậm bằng áp đường ống nhẹ [1].

Phía catalogue phớt trục công nghiệp, SKF cho thấy phớt môi đòi hỏi gì ở mặt đối tiếp — đây là phần phớt mê cung không có. Tuổi thọ và khả năng làm việc của phớt phụ thuộc phần lớn vào vật liệu và độ cứng trục, độ nhẵn và cấp dung sai trục, độ đảo động cùng độ lệch giữa trục và lỗ [3]. Cụ thể hơn: mặt trục quá nhẵn có thể gây thiếu bôi trơn [3], còn mặt trục quá nhám thì làm mòn môi phớt nhanh hơn [3]. Mặt trục cũng phải được gia công không để lại vệt định hướng, vì vệt định hướng có thể gây rò tuỳ chiều quay [3]. Về hình học, SKF yêu cầu độ không tròn nhỏ hơn 0,005 mm [3], độ nhám mặt lắp phớt tính theo phương pháp mô tả trong ISO 4288 [3], và mặt lắp phớt không có hư hỏng, vết xước, vết nứt, gỉ hay ba-via [3].

Đảo động là chỗ hai kiểu tách nhau rõ nhất. SKF ghi đảo động và lệch trục so với lỗ gây tải hướng kính không đều trên chu vi môi phớt [3]; hệ quả là ở tốc độ cao, môi phớt không bám kịp trục [3], và điều đó tạo ra khe hở giữa môi và trục làm giảm khả năng làm kín [3]. Về áp, SKF ghi khi có chênh áp thì phớt phải chịu thêm tải hướng kính do áp sinh ra [3], và loại tiêu chuẩn được định mức không quá 0,07 MPa ở 5 m/s [3].

Tốc độ cho phép của phớt môi cũng không phải một con số dùng chung: SKF ghi nó do thiết kế phớt quyết định [3], và nêu vài mốc gắn với kiểu cụ thể. Phớt trục kiểu xẻ đôi hợp với tốc độ vòng tới 7,5 hoặc 10 m/s tuỳ thiết kế [3]. Với vòng chữ V — loại làm kín theo phương dọc trục — SKF ghi trong dải 15 đến 20 m/s thì môi tách khỏi mặt đối tiếp [3]. Riêng trường hợp bôi trơn bằng mỡ, SKF khuyên tính tốc độ vòng cho phép theo dầu rồi lấy một nửa [3].

Mẹo sai 1: "Phớt mê cung không chạm vào trục nên không kín." Regal Rexnord vẫn xếp mê cung là một trong hai kiểu phớt ổ lăn và mô tả cơ chế chặn của nó bằng chuỗi rãnh cùng màng mỡ hoặc dầu trong đường mê cung [1]. SKF ghi tấm ngoài đứng yên chạy sát vòng trong của ổ để chặn bẩn, và bộ ba mảnh tạo một đường đi khó để cản bẩn lọt vào [2]. Cái đúng là mức bảo vệ thấp hơn khi bẩn nặng [1], không phải là không chặn gì.

Mẹo sai 2: "Phớt tiếp xúc kín hơn nên chỗ nào cũng nên dùng." Regal Rexnord ghi khi khả năng làm kín tăng lên thì khả năng chịu tốc độ thường giảm xuống, nên phải biết tốc độ làm việc mới chọn được phớt [1]; hãng cũng ghi phớt tiếp xúc hợp hơn với tốc độ làm việc thấp và mô men quay cao [1], và nó có thể làm nhiệt độ làm việc tăng lên [1].

Mẹo sai 3: "Bơm mỡ càng nhiều càng chắc ăn." Regal Rexnord xếp bôi trơn quá nhiều vào giới hạn của phớt tiếp xúc và ghi phớt có thể bị hỏng vì việc đó [1]; hãng nêu điều kiện bơm mỡ lại là trục phải đang quay và bơm chậm bằng áp đường ống nhẹ [1]. Với kiểu mê cung, hãng ghi rủi ro hỏng khi bơm mỡ lại thấp hơn [1].

Mẹo sai 4: "Thay phớt môi mới là hết rò." SKF xếp tuổi thọ và khả năng làm việc của phớt vào nhóm phụ thuộc vật liệu và độ cứng trục, độ nhẵn và cấp dung sai trục, độ đảo động và độ lệch trục so với lỗ [3]; hãng còn ghi mặt trục quá nhám làm mòn môi nhanh hơn, mặt trục quá nhẵn thì gây thiếu bôi trơn [3]. Cổ trục là một nửa của cụm phớt môi.

Mẹo sai 5: "Hai kiểu loại trừ nhau, chọn một là xong." SKF ghi vòng chữ V có thể dùng để tăng hiệu quả của phớt mê cung [3]; hãng cũng ghi vòng chữ V và phớt kẹp hướng trục thường được dùng làm phớt phụ để bảo vệ phớt chính khỏi bẩn thô [3]. Trong gối đỡ, SKF mô tả bộ mê cung có cả tấm chắn bẩn bằng thép ở phía ngoài [2].

Bảng quyết định: đo và thấy gì ở gối đỡ thì nghiêng về kiểu nào

Thấy hoặc đo được tại xưởngLàm gìCăn cứ
Máy chạy nhanh, và yêu cầu là ít tổn hao ở cụm làm kínXét kiểu mê cung; nguồn xếp nó vào nhóm ma sát thấp, mô men thấp, cho tốc độ cao [1][1]
Gối đỡ đặt ở chỗ bụi nặng, bùn, hoặc bị xịt rửa thường xuyênXét kiểu tiếp xúc; nguồn ghi nó chặn bẩn tốt và hợp môi trường bẩn hoặc ướt [1][1]
Đo tốc độ quay thực tế của trục rồi đối chiếu bảng giới hạn tốc độ của đúng dòng gối đỡ đang dùngChọn kiểu phớt mà bảng cho phép ở cỡ trục đó; đừng lấy số của cỡ trục khác [2][2]
Vừa bơm mỡ xong thì phớt bị đẩy bung hoặc rò ngayRà lại cách bơm: nguồn yêu cầu trục đang quay và bơm chậm bằng áp đường ống nhẹ [1][1]
Đồng hồ so cho độ không tròn cổ trục vượt mức 0,005 mm mà nguồn nêuXử lý cổ trục hoặc dùng bạc chống mòn trước khi lắp phớt môi mới [3][3]
Cổ trục có vết xước, vết nứt, gỉ hoặc ba-via ở vùng môi phớt chạyLàm sạch và phục hồi mặt đó; nguồn đặt yêu cầu mặt lắp phớt không có các khuyết tật này [3][3]
Cổ trục vừa mài xong, bóng như gươngKiểm lại độ nhám theo phương pháp của ISO 4288; nguồn ghi mặt quá nhẵn có thể gây thiếu bôi trơn cho môi phớt [3][3]
Phớt môi mới thay đã rò lại sau thời gian ngắn, cổ trục thấy vệt mài xoắn theo một chiềuKiểm vệt định hướng khi gia công; nguồn ghi vệt định hướng có thể gây rò tuỳ chiều quay [3][3]
Đo được đảo động lớn ở cổ trục, hoặc lỗ lắp phớt lệch so với trụcXử lý phần cơ trước; nguồn ghi hai sai lệch đó gây tải hướng kính không đều và sinh khe hở ở tốc độ cao [3][3]
Trong thân máy có chênh áp so với ngoài trờiĐối chiếu mức định mức của phớt; nguồn ghi loại tiêu chuẩn không quá 0,07 MPa ở 5 m/s [3][3]
Cụm đang dùng mê cung mà mỡ trong gối hao nhanhĐối chiếu với giới hạn nguồn nêu cho kiểu này về khả năng giữ chất bôi trơn, và xét kiểu tiếp xúc [1][1]
Cụm bôi trơn bằng mỡ, đang tra tốc độ vòng cho phép của phớt môi trong catalogueTính theo cách nguồn chỉ: lấy tốc độ vòng cho phép của dầu rồi lấy một nửa [3][3]
Cần giữ kiểu mê cung nhưng bẩn thô bắn thẳng vào cụmXét thêm phớt phụ; nguồn ghi vòng chữ V có thể dùng để tăng hiệu quả của phớt mê cung [3][3]

Nguồn và giới hạn

Tra ngày 12/09/2026. Các câu dẫn đã đối chiếu trên văn bản tải trực tiếp từ trang và từ bản PDF của từng nguồn.

Bảng này không dùng cho:

  • Phớt mê cung trong tuabin khí, máy nén khí và bơm ly tâm chặn khí hoặc hơi: ba nguồn trên bàn cụm làm kín ổ lăn và phớt trục công nghiệp, bài không mở rộng.
  • Trị số khe hở mê cung, số rãnh, chiều sâu rãnh theo cỡ trục: nguồn không cho, bài không nêu.
  • Lượng rò tính bằng số của phớt mê cung: nguồn không cho.
  • Trị số độ nhám và độ cứng bề mặt lắp phớt: hai bảng đó trong bản PDF bị chữ của bảng bên cạnh chèn xen kẽ từng dòng nên không trích được nguyên văn, bài chỉ dẫn phương pháp và số hiệu tiêu chuẩn.
  • So sánh tuổi thọ giữa hai kiểu trên cùng một máy: nguồn đã kiểm không cho phép đo đối chứng.
  • Hồ sơ theo TCVN: chưa đối chiếu.

Không xác định được từ bài này: giới hạn tốc độ dùng chung cho "phớt mê cung" và cho "phớt tiếp xúc" — ba con số rpm trong bảng chỉ đúng cho một dòng gối đỡ ở đúng cỡ trục ghi kèm, và SKF nói rõ tốc độ cho phép của phớt môi do thiết kế phớt quyết định; và mức bẩn nào thì mê cung còn đủ, vì nguồn chỉ nói "kém hiệu quả hơn khi bẩn nhiều" chứ không đặt ngưỡng đo được.

Cần chính xác hơn: đọc tiếp cách các kiểu làm kín được xếp nhóm và các dạng rò hay gặp ở gioăng và phớt làm kín; cách lắp ổ lăn lên trục và lên gối ở lắp ghép ổ lăn lên trục và gối. Các trị số tốc độ, áp và kích thước giữ nguyên đơn vị của nguồn.

Câu hỏi thường gặp

Phớt mê cung là gì? Là phớt không tiếp xúc. Regal Rexnord mô tả nó dùng một chuỗi rãnh hoặc đường đi; ở nhiều thiết kế, mỡ hoặc dầu trong đường mê cung tạo màng chắn bẩn, ở thiết kế khác thì dùng nỉ hoặc vật chắn có hệ số ma sát thấp.

Vì sao phớt mê cung chịu được tốc độ cao hơn? Vì không có chỗ nào tì vào mặt quay. SKF ghi cho bộ mê cung toàn kim loại hai mảnh: không có mô men ma sát từ phớt, không có giới hạn nhiệt độ của bản thân phớt, và kiểu này cho tốc độ làm việc cao.

Phớt tiếp xúc hơn phớt mê cung ở chỗ nào? Ở việc chặn bẩn và giữ mỡ. Regal Rexnord ghi phớt tiếp xúc chặn bẩn tốt, giữ mỡ mạnh và hợp môi trường bẩn hoặc ướt; ngược lại, hãng ghi phớt mê cung kém hiệu quả hơn khi bẩn nhiều và ở việc giữ chất bôi trơn.

Lắp phớt môi thì cổ trục phải đạt gì? SKF yêu cầu mặt lắp phớt không có hư hỏng, vết xước, vết nứt, gỉ hay ba-via, độ không tròn nhỏ hơn 0,005 mm [3], độ nhám tính theo phương pháp mô tả trong ISO 4288, và mặt gia công không để lại vệt định hướng vì vệt đó có thể gây rò tuỳ chiều quay.

Có con số tốc độ chung cho hai kiểu không? Không. SKF ghi tốc độ cho phép của phớt trục do thiết kế phớt quyết định, và các mốc hãng nêu gắn với kiểu cụ thể: kiểu xẻ đôi tới 7,5 hoặc 10 m/s tuỳ thiết kế [3], vòng chữ V thì môi tách khỏi mặt đối tiếp trong dải 15 đến 20 m/s [3].

Bơm mỡ bổ sung cho cụm dùng phớt tiếp xúc thế nào? Theo Regal Rexnord: trục phải đang quay, và mỡ phải được bơm chậm bằng áp đường ống nhẹ. Hãng xếp bôi trơn quá nhiều vào nhóm nguyên nhân làm hỏng phớt tiếp xúc.

Dùng cả hai kiểu trên một cụm được không? SKF ghi vòng chữ V có thể dùng để tăng hiệu quả của phớt mê cung, và vòng chữ V cùng phớt kẹp hướng trục thường được dùng làm phớt phụ để bảo vệ phớt chính khỏi bẩn thô.

Đọc tiếp

Thuộc chuyên trang: Thiết kế & chế tạo máyChi tiết máy