Xích con lăn có con lăn xoay quanh bạc, ăn khớp với răng đĩa xích. Xích răng chỉ gồm má xích và chốt; má xích mang vấu khía, ăn khớp với đĩa hình bánh răng. Theo Tsubakimoto, má xích của xích răng đập vào đĩa theo một góc nên va đập và tiếng ồn giảm.
Kết luận trên đúng khi so hai loại xích truyền động chạy trên đĩa xích: xích con lăn theo mô tả kết cấu của Tsubaki Europe, và xích răng theo mục 1.6.3 của cuốn hướng dẫn về xích do Tsubakimoto Chain Co. biên soạn. Phạm vi nguồn là ba tài liệu của cùng một nhà sản xuất xích, trong đó bản trực tuyến từng mục và bản PDF đầy đủ là hai bản của một cuốn. Nguồn không đưa phép đo độ ồn, hiệu suất, tuổi thọ hay khả năng tải của hai loại theo cùng một bài thử, cũng không so theo từng cỡ xích. Bài không nêu mã hàng, không trích bảng kích thước của tiêu chuẩn.
Bảng đối chiếu xích con lăn và xích răng
| Tiêu chí | Xích con lăn | Xích răng |
|---|---|---|
| Bộ phận hợp thành | Má xích, chốt, bạc và con lăn; hai bạc ép vào hai má xích trong, con lăn lồng ngoài bạc để quay được quanh bạc lúc làm việc [1] | Kết cấu rất đơn giản, chỉ có má xích và chốt [2] |
| Chi tiết chịu lực kéo | Má xích là chi tiết chịu lực kéo đặt lên xích; đây thường là tải lặp, đôi khi kèm va đập [1] | Má xích chịu lực kéo và có vấu khía để ăn với đĩa; má dẫn hướng không có vấu, hai loại má này dẫn hướng cho đĩa [2] |
| Cách chia tải giữa các chi tiết | Chốt chịu cắt và uốn do má xích truyền sang, đồng thời cùng bạc thành phần chịu tải khi xích uốn lúc ăn khớp [1]; bạc chịu lực phức tạp từ các phần khác, nhất là va đập lặp lại lúc xích vào khớp [1] | Mọi chi tiết của xích cùng chia nhau lực kéo [2] |
| Chỗ chạm răng đĩa | Con lăn chịu tải va đập khi ăn với răng đĩa; vào khớp rồi thì con lăn đổi điểm tiếp xúc, bị kẹp giữa răng đĩa và bạc, di chuyển trên mặt răng dưới tải nén [1] | Má xích đập vào đĩa theo một góc [2] |
| Hình dạng đĩa | Đĩa xích trông giống bánh răng nhưng khác ở ba điểm quan trọng [3] | Đĩa có hình một bánh răng; trong tiêu chuẩn ANSI, mặt làm việc của răng đĩa là một đường thẳng [2] |
| Khả năng tải theo cùng bề rộng | Nguồn lấy làm mốc để so [2] | Khả năng tải cao hơn xích con lăn cùng bề rộng [2] |
| Va đập và tiếng ồn | Nguồn không so bằng số | Vì má xích đập vào đĩa theo một góc nên va đập và tiếng ồn giảm; tốc độ xích càng cao thì khác biệt với xích con lăn càng lớn [2] |
| Vùng tốc độ nguồn gắn cho | Nguồn không nêu ngưỡng | Hợp với truyền động tốc độ cao [2] |
| Bôi trơn | Xích cần bôi trơn [3] | Phải bôi trơn trong lúc làm việc; dùng bể dầu nếu tốc độ nhỏ hơn 600 m/phút, dùng bơm hoặc bôi trơn cưỡng bức nếu tốc độ lớn hơn 600 m/phút hoặc khoảng cách trục ngắn; thiếu bôi trơn thì mòn nhanh [2] |
| Chiều quay | Nguồn không nêu hạn chế chiều | Vấu trên má xích chỉ ăn với đĩa từ một chiều, nên loại xích này không dành cho ứng dụng đảo chiều [2] |
| Hiệu ứng đa giác | Xích có biến thiên tốc độ gọi là hiệu ứng đa giác, do tính đa giác của đĩa gây ra [3] | Nguồn xếp hiệu ứng đa giác là tính chất của xích nói chung, không tách riêng cho loại này [3] |
| Mòn và giãn dài | Xích mòn và giãn dài [3] | Thiếu bôi trơn thì mòn nhanh [2] |
| Chịu tải ngang | Xích yếu khi chịu tải từ bên hông, cần lắp thẳng hàng đúng [3] | Nguồn không tách riêng cho loại này [3] |
| Khoảng cách trục | Xích đáp ứng được khoảng cách trục dài, nhỏ hơn 4 m [3] | Nguồn không nêu riêng |
| Lắp lẫn theo kích thước | Bước, đường kính con lăn và bề rộng trong là ba kích thước cơ bản; ba kích thước này giống nhau thì xích và đĩa lắp lẫn được về mặt kích thước [1] | Tiêu chuẩn ANSI B29.2M-1982 quy định bước, bề rộng và mức công suất của xích và đĩa [2] |
| Chỗ dùng nguồn liệt kê | Nguồn không liệt kê trong phần đã đọc | Dẫn động trục cam của động cơ xe máy cỡ vừa và lớn, động cơ ô tô tại Hoa Kỳ, dẫn động hộp số phụ trên xe hai cầu, truyền động sơ cấp giữa động cơ và hộp số, cùng các ứng dụng tốc độ cao khác [2] |
Nguồn [1]–[3] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Hai trị số tốc độ ở hàng bôi trơn là ngưỡng chọn cách bôi trơn mà Tsubakimoto nêu cho xích răng [2], không phải giới hạn tốc độ làm việc của xích.
Ăn khớp bằng con lăn xoay và ăn khớp bằng vấu khía
Chỗ khác nhau gốc rễ nằm ở chi tiết nào chạm vào răng đĩa. Ở xích con lăn, Tsubaki Europe mô tả một chuỗi bốn chi tiết có phân vai rõ: má xích chịu lực kéo đặt lên xích, thường là tải lặp và đôi khi kèm va đập [1]; chốt chịu cắt và uốn do má xích truyền sang, đồng thời cùng với bạc trở thành phần chịu tải khi xích uốn lúc ăn khớp [1]; bạc chịu lực phức tạp từ các phần khác, nhất là va đập lặp lại lúc xích vào khớp với đĩa [1]. Con lăn là chi tiết đứng ngoài cùng chuỗi đó: nó chịu tải va đập khi ăn với răng đĩa, sau khi vào khớp thì đổi điểm tiếp xúc, bị kẹp giữa răng đĩa và bạc rồi di chuyển trên mặt răng trong lúc chịu tải nén [1]. Về lắp ghép, hai bạc được ép vào hai má xích trong, còn con lăn lồng bên ngoài bạc để quay được quanh bạc lúc làm việc [1].
Ở xích răng, danh sách chi tiết ngắn hơn hẳn. Tsubakimoto viết loại xích này có kết cấu rất đơn giản, chỉ gồm má xích và chốt [2]. Vai trò được chia theo hình má chứ không theo lớp chi tiết: má xích chịu lực kéo và mang vấu khía để ăn với đĩa, còn má dẫn hướng không có vấu, hai loại má này làm nhiệm vụ dẫn hướng cho đĩa [2]. Chốt có thể tròn hoặc mang hình khác, chẳng hạn dạng chữ D [2]. Về cách chịu tải, nguồn ghi mọi chi tiết của xích cùng chia nhau lực kéo, và xích răng có khả năng tải cao hơn xích con lăn cùng bề rộng [2].
Cách hiểu của bài: khi chi tiết chạm đĩa là con lăn quay được thì chuyển động tương đối ở chỗ tiếp xúc chuyển một phần sang dạng lăn; khi chi tiết chạm đĩa là vấu trên má xích thì mặt tiếp xúc là mặt vấu, và hình đĩa phải đổi theo. Đó là lý do hai nguồn mô tả đĩa khác nhau: đĩa xích nói chung trông giống bánh răng nhưng khác ở ba điểm quan trọng [3], còn đĩa cho xích răng thì có hình một bánh răng, với mặt làm việc của răng là một đường thẳng theo tiêu chuẩn ANSI [2]. Biên dạng răng của bánh răng thật được bàn riêng ở bài góc áp lực và biên dạng thân khai; ở đây chỉ cần giữ đúng mô tả của nguồn về mặt răng đĩa.
Hệ quả về tiếng ồn cũng bắt nguồn từ chỗ đó. Tsubakimoto giải thích: vì má xích của loại xích này đập vào đĩa theo một góc nên va đập và tiếng ồn giảm [2]; và tốc độ xích càng cao thì khác biệt so với xích con lăn càng lớn [2]. Nguồn gắn thêm một câu ngắn cho vùng làm việc: loại xích này hợp với truyền động tốc độ cao [2]. Danh sách ứng dụng nguồn đưa ra cũng nằm trong vùng đó: dẫn động trục cam của động cơ xe máy cỡ vừa và lớn cùng động cơ ô tô tại Hoa Kỳ, dẫn động hộp số phụ trên xe hai cầu, truyền động sơ cấp giữa động cơ và hộp số, cùng các ứng dụng tốc độ cao khác [2].
Hiệu ứng đa giác, bôi trơn và chiều quay
Hiệu ứng đa giác là chuyện của xích nói chung chứ không phải nét riêng của một loại. Tsubakimoto liệt kê nó ngay trong phần điểm cần lưu ý của bộ truyền xích: xích có biến thiên tốc độ gọi là hiệu ứng đa giác, do tính đa giác của đĩa gây ra [3]. Cùng chương, nguồn mô tả cái nhìn thấy được: vị trí xích và đĩa ăn khớp dao động, và xích rung theo dao động đó [3]. Lý do nằm ở hình học: xích có chiều dài bước và chỉ uốn được tại điểm bước [3], nên chiều cao ăn khớp, tức bán kính tính từ tâm đĩa, khác nhau giữa lúc xích ăn ở vị trí tiếp tuyến và lúc ăn theo dây cung [3]. Vì thế, ngay cả khi hai đĩa quay cùng tốc độ, tốc độ xích không đều theo tỉ lệ bán kính đĩa [3]. Nguồn có đưa công thức tính tỉ lệ biến thiên tốc độ theo số răng đĩa; bài dẫn công thức ở dạng lời và không thế số vào.
Ba cách kéo hiệu ứng này xuống được nguồn nêu thẳng. Thứ nhất là số răng đĩa: tăng số răng đĩa, tức đổi sang đĩa đường kính lớn hơn, thì rung giảm; giảm số răng đĩa thì rung tăng [3]. Thứ hai là khoảng cách trục: nếu khoảng cách trục là bội số chung của bước xích thì hiệu ứng đa giác nhỏ, còn nếu khoảng cách trục là bội số của bước xích cộng thêm nửa bước thì hiệu ứng đa giác tăng [3]. Nguồn ghi thêm rằng sai số chế tạo và sai số lắp thẳng hàng cũng ảnh hưởng tới hiệu ứng này [3]. Thứ ba là bước xích: trong phần so xích bước lớn với xích bước nhỏ, nguồn ghi vì số răng đĩa giảm đi nên hiệu ứng đa giác lớn hơn [3], hệ xích bước lớn có xu hướng ồn hơn [3], và chốt cùng bạc của xích bước lớn mòn nhanh hơn [3]. Cách tính bộ truyền xích con lăn kèm hiệu ứng đa giác được làm riêng ở bài tính bộ truyền xích con lăn, nên ở đây bài dừng ở phần nguyên nhân.
Về bôi trơn, nguồn chỉ đặt ngưỡng cho xích răng. Tsubakimoto viết loại xích này phải được bôi trơn trong lúc làm việc: dùng bể dầu nếu tốc độ nhỏ hơn 600 m/phút; nếu tốc độ lớn hơn 600 m/phút, hoặc khi khoảng cách trục ngắn, thì dùng bơm hoặc bôi trơn cưỡng bức; thiếu bôi trơn thì xích mòn nhanh [2]. Với xích nói chung, nguồn chỉ ghi ba câu ngắn trong phần điểm cần lưu ý: xích cần bôi trơn, xích mòn và giãn dài, xích yếu khi chịu tải từ bên hông nên cần lắp thẳng hàng đúng [3].
Ràng buộc cuối là chiều quay, và nó thuộc riêng xích răng. Nguồn ghi vấu trên má xích chỉ ăn với đĩa từ một chiều, nên loại xích này không dành cho ứng dụng đảo chiều [2]. Đây là ràng buộc hình học, đọc được ngay trên bản vẽ cụm, chứ không phải khuyến cáo về chế độ tải.
Mẹo sai 1: "Xích răng chính là xích con lăn bản rộng, chỉ khác cái tên." Tsubakimoto ghi loại xích này có kết cấu rất đơn giản, chỉ gồm má xích và chốt [2] — không có bạc, không có con lăn, trong khi Tsubaki Europe mô tả xích con lăn có đủ má xích, chốt, bạc và con lăn với bốn vai trò chịu lực khác nhau [1].
Mẹo sai 2: "Xích răng êm nên thay được xích con lăn ở mọi chỗ, kể cả khi máy chạy đảo chiều." Nguồn chặn ngay: vấu trên má xích chỉ ăn với đĩa từ một chiều, và loại xích này không dành cho ứng dụng đảo chiều [2].
Mẹo sai 3: "Rung và ồn của bộ truyền xích là do xích mòn, thay xích mới là hết." Tsubakimoto xếp biến thiên tốc độ do tính đa giác của đĩa vào nhóm đặc tính của xích, không phải hư hỏng [3]; và chỉ ra cách đổi nó bằng số răng đĩa cùng khoảng cách trục [3], tức là bằng thiết kế bộ truyền chứ không bằng việc thay xích.
Mẹo sai 4: "Đã là xích thì cứ tra dầu định kỳ, tốc độ không liên quan đến cách bôi trơn." Với xích răng, Tsubakimoto đặt ngưỡng theo tốc độ: bể dầu khi tốc độ nhỏ hơn 600 m/phút, còn khi tốc độ lớn hơn 600 m/phút hoặc khoảng cách trục ngắn thì dùng bơm hay bôi trơn cưỡng bức [2].
Mẹo sai 5: "Xích cùng bước thì hãng nào cũng lắp lẫn được." Tsubaki Europe đặt điều kiện bằng ba kích thước chứ không phải một: bước, đường kính con lăn và bề rộng trong là ba kích thước cơ bản của xích con lăn, và xích cùng đĩa lắp lẫn được về mặt kích thước khi cả ba kích thước này giống nhau [1].
Bảng quyết định: nhìn cụm truyền động thì nghiêng về loại xích nào
| Thấy hoặc đo được tại xưởng | Làm gì | Căn cứ |
|---|---|---|
| Cụm truyền động đảo chiều quay trong chu kỳ làm việc | Loại xích răng ra khỏi phương án; nguồn ghi xích này không dành cho ứng dụng đảo chiều [2] | [2] |
| Máy chạy nhanh, tiếng ồn của bộ truyền là điều khách hàng phàn nàn | Đưa xích răng vào danh sách xét; nguồn ghi va đập và tiếng ồn giảm do má xích đập vào đĩa theo góc, và khác biệt lớn dần khi tốc độ tăng [2] | [2] |
| Đo được tốc độ xích và thấy vượt ngưỡng nguồn nêu cho bể dầu | Với xích răng, chuyển sang bơm hoặc bôi trơn cưỡng bức theo đúng ngưỡng nguồn đặt [2] | [2] |
| Khoảng cách trục của cụm ngắn | Với xích răng, nguồn xếp trường hợp này cùng nhóm với tốc độ cao khi chọn cách bôi trơn [2] | [2] |
| Bộ truyền rung theo nhịp, nghe rõ hơn khi đĩa nhỏ | Xem lại số răng đĩa trước khi đổi xích; nguồn ghi tăng số răng đĩa thì rung giảm, giảm số răng thì rung tăng [3] | [3] |
| Đo khoảng cách trục và thấy lệch nửa bước xích so với bội số bước | Đưa khoảng cách trục về bội số chung của bước xích khi kết cấu cho phép; nguồn ghi lệch nửa bước làm hiệu ứng đa giác tăng [3] | [3] |
| Xích lắp xong bị vênh, có tải đẩy từ bên hông | Sửa việc lắp thẳng hàng; nguồn ghi xích yếu khi chịu tải từ bên hông và cần lắp thẳng hàng đúng [3] | [3] |
| Khoảng cách hai trục trên bản vẽ khá xa nhau | Kiểm tra xem có nằm trong dải mà nguồn nói xích đáp ứng được, tức nhỏ hơn 4 m [3] | [3] |
| Bộ truyền đang dùng xích bước lớn và xưởng kêu ồn | Xét lại cỡ bước; nguồn ghi hệ xích bước lớn có xu hướng ồn hơn và hiệu ứng đa giác lớn hơn do số răng đĩa giảm [3] | [3] |
| Chốt và bạc mòn nhanh hơn dự kiến trên xích bước lớn | Đối chiếu với ghi nhận của nguồn rằng chốt cùng bạc của xích bước lớn mòn nhanh hơn [3] trước khi kết luận do tải | [3] |
| Định thay xích con lăn bằng xích của lô khác cùng bước | So đủ ba kích thước cơ bản chứ không chỉ bước; nguồn nêu điều kiện lắp lẫn gồm bước, đường kính con lăn và bề rộng trong [1] | [1] |
| Xích răng chạy khô, không thấy màng dầu trên má | Dừng máy và lập lại chế độ bôi trơn; nguồn ghi xích răng mòn nhanh khi thiếu bôi trơn [2] | [2] |
| Cần biết bề rộng xích phải là bao nhiêu cho tải của máy | Không tra trong bài này; nguồn dẫn người dùng sang catalogue của nhà sản xuất để chọn xích răng [2] | [2] |
Nguồn và giới hạn
Tra ngày 12/09/2026. Các câu dẫn đã đối chiếu trên văn bản tải trực tiếp từ trang của từng nguồn. Nguồn [2] và [3] là hai bản của cùng một cuốn hướng dẫn: một bản trực tuyến từng mục, một bản PDF đầy đủ; bài dẫn riêng từng địa chỉ theo đúng chỗ lấy câu.
- [1] Tsubaki Europe, Introduction to Tsubaki Roller Chain: https://tsubaki.eu/support/general-info/introduction-tsubaki-roller-chain/ — bốn chi tiết của xích con lăn và vai trò chịu lực của từng chi tiết; cách ép bạc và lồng con lăn; ba kích thước cơ bản và điều kiện lắp lẫn.
- [2] Tsubakimoto Chain Co., The Complete Guide to Chain, mục 1.6.3 về xích vấu khía: http://chain-guide.com/applications/1-6-3-inverted-tooth-chain.html — kết cấu chỉ gồm má xích và chốt; vai trò má xích và má dẫn hướng; cách chia tải; khả năng tải so với xích con lăn cùng bề rộng; góc đập vào đĩa và tiếng ồn; hình đĩa; ngưỡng tốc độ chọn cách bôi trơn; hạn chế chiều quay; danh sách ứng dụng.
- [3] Tsubakimoto Chain Co., The Complete Guide to Chain (bản PDF đầy đủ do U.S. Tsubaki đăng): https://www.ustsubaki.com/wp-content/uploads/the-complete-guide-1.pdf — điểm cần lưu ý của bộ truyền xích; hiệu ứng đa giác và nguyên nhân hình học; ảnh hưởng của số răng đĩa, khoảng cách trục và bước xích; khoảng cách trục xích đáp ứng được; đĩa xích so với bánh răng.
Tiêu chuẩn nhắc tới trong bài, chỉ tên và số hiệu: ANSI B29.2M-1982 (xích vấu khía và đĩa xích).
Bảng này không dùng cho:
- Chọn cỡ xích và bề rộng theo công suất: nguồn dẫn sang catalogue của nhà sản xuất, bài không nêu.
- Xích tải và xích chuyên dụng cho băng tải: bài chỉ xét hai loại xích truyền động.
- Xích cam của một mẫu động cơ cụ thể: bài không nêu.
- So sánh với bộ truyền đai và bộ truyền bánh răng: bài không nêu.
- Trị số của tiêu chuẩn ANSI B29.2M-1982: bài không trích.
- Hồ sơ theo TCVN: chưa đối chiếu.
Không xác định được từ bài này: loại xích nào ồn hơn bao nhiêu và ở chế độ nào — nguồn chỉ ghi rằng va đập cùng tiếng ồn của xích răng giảm nhờ góc đập và khác biệt lớn dần theo tốc độ, không kèm phép đo; khả năng tải và tuổi thọ của hai loại theo một bài thử chung, vì nguồn chỉ đặt một câu so khả năng tải ở cùng bề rộng; và tốc độ làm việc giới hạn của từng loại, vì hai trị số tốc độ mà nguồn đưa ra là ngưỡng chọn cách bôi trơn cho xích răng chứ không phải giới hạn tốc độ.
Cần chính xác hơn: đọc tiếp phần tính toán bộ truyền và hiệu ứng đa giác ở bài tính bộ truyền xích con lăn; muốn đặt bộ truyền xích cạnh bộ truyền đai thì xem so sánh bộ truyền đai và xích. Trị số tốc độ giữ nguyên đơn vị của nguồn.
Câu hỏi thường gặp
Xích răng khác xích con lăn ở chỗ nào trước hết? Ở danh sách chi tiết. Tsubakimoto ghi xích răng có kết cấu rất đơn giản, chỉ gồm má xích và chốt. Tsubaki Europe thì mô tả xích con lăn có má xích, chốt, bạc và con lăn, trong đó bạc được ép vào hai má xích trong và con lăn lồng ngoài bạc để quay quanh bạc lúc làm việc.
Vì sao xích răng chạy êm hơn? Tsubakimoto giải thích bằng góc va: má xích của loại xích này đập vào đĩa theo một góc nên va đập và tiếng ồn giảm; nguồn ghi thêm tốc độ xích càng cao thì khác biệt so với xích con lăn càng lớn. Nguồn không kèm phép đo độ ồn.
Xích răng có chạy được khi máy đảo chiều không? Tsubakimoto ghi vấu trên má xích chỉ ăn với đĩa từ một chiều, nên loại xích này không dành cho ứng dụng đảo chiều.
Hiệu ứng đa giác là của riêng xích con lăn phải không? Không. Tsubakimoto xếp biến thiên tốc độ do tính đa giác của đĩa vào nhóm điểm cần lưu ý của bộ truyền xích nói chung, và giải thích bằng hình học chung: xích có chiều dài bước, chỉ uốn được tại điểm bước, nên chiều cao ăn khớp khác nhau giữa vị trí tiếp tuyến và vị trí dây cung.
Muốn giảm rung của bộ truyền xích thì chỉnh gì trước? Tsubakimoto nêu ba chỗ: số răng đĩa (tăng số răng thì rung giảm, giảm số răng thì rung tăng), khoảng cách trục (bội số chung của bước xích thì hiệu ứng đa giác nhỏ, lệch thêm nửa bước thì tăng), và bước xích (bước lớn kéo số răng đĩa xuống nên hiệu ứng đa giác lớn hơn) [3].
Bôi trơn xích răng theo cách nào? Tsubakimoto đặt ngưỡng theo tốc độ: bể dầu nếu tốc độ nhỏ hơn 600 m/phút; bơm hoặc bôi trơn cưỡng bức nếu tốc độ lớn hơn 600 m/phút hoặc khi khoảng cách trục ngắn [2]. Nguồn ghi xích mòn nhanh khi thiếu bôi trơn.
Xích cùng bước thì có lắp lẫn được không? Tsubaki Europe đặt điều kiện bằng ba kích thước: bước, đường kính con lăn và bề rộng trong; khi ba kích thước này giống nhau thì xích và đĩa lắp lẫn được về mặt kích thước.
Đĩa cho hai loại xích có giống nhau không? Không. Tsubakimoto ghi đĩa xích nói chung trông giống bánh răng nhưng khác ở ba điểm quan trọng, còn đĩa cho xích răng thì có hình một bánh răng, với mặt làm việc của răng là một đường thẳng theo tiêu chuẩn ANSI.