Chuyển đến nội dung chính
CƠ KHÍ.NET
Vật liệu & nhiệt luyện

Ram thép và hoá già hợp kim nhôm: cùng nung lại sau khi tôi, ngược chiều độ cứng

Nguyễn Đỗ Tùng

Biên soạn có hỗ trợ công cụ · nguồn dẫn kèm · cập nhật

Ram và hoá già cùng là nung lại sau khi tôi, nhưng đi ngược chiều nhau. Theo Total Materia, ram thải cacbon khỏi mactenxit quá bão hoà thành cacbit phân tán, đổi độ cứng lấy độ dai; hoá già kết tủa pha thứ hai từ dung dịch rắn quá bão hoà, làm hợp kim nhôm bền lên.

Kết luận trên đúng khi so ram thép cacbon đã tôi ra mactenxit với hoá già nhân tạo hợp kim nhôm, hai quy trình mà [1] và [2] mô tả. Ba nguồn nói ngược nhau ở một điểm cốt lõi: [3] ghi mục tiêu của ram là giảm giòn, đổi lại hy sinh độ cứng và độ bền cơ học; [5] ghi ram làm thép cứng thêm và dai hơn; [6] ghi ram giữ hoặc cải thiện độ cứng, và gắn điều kiện là tuỳ nguyên tố hợp kim. Bài nêu cả ba, không phân xử. Nguồn đã kiểm cũng không cho đường cong độ cứng theo thời gian hoá già của một mác nhôm cụ thể, nên phần hoá già chỉ nêu cơ chế và các bước.

Bảng đối chiếu ram thép và hoá già hợp kim nhôm

Tiêu chíRam thép đã tôiHoá già hợp kim nhôm
Trạng thái ngay trước khi nung lạiMactenxit — dung dịch rắn quá bão hoà cacbon trong sắt, rất bền nhưng giòn [1]Dung dịch rắn quá bão hoà αSS, chứa dư đồng, không phải tổ chức cân bằng, chưa có hạt kết tủa [2]
Việc xảy ra khi nung lạiThải cacbon ra thành các pha cacbit phân tán mịn; kết quả là phân tán cacbit trong nền α-sắt [1]Kết tủa pha thứ hai phân tán mịn từ dung dịch quá bão hoà; hạt kết tủa cản chuyển động lệch [2]
Chiều của độ cứng theo nguồn[3] ghi đổi độ cứng lấy bớt giòn; [5] và [6] ghi ngược lại. Ba nguồn không thống nhất[4] ghi quy trình cho kim loại cứng hơn, bền hơn; độ dẻo giảm
Khoảng nhiệt độ nguồn nêu150–700 °C cho thép mactenxit nói chung [1]; nhóm thép 0,25–0,55 % C thường ram trong 300–700 °C [1]116 đến 238 °C với dung sai ± 3 °C, là số °C do chính [4] ghi kèm bản °F
Thời gian giữNguồn đã kiểm không nêu sốChi tiết được giữ 6 đến 24 giờ [4]
Khi đi quá đàCacbit thô hoá từ 300 đến 400 °C và cầu hoá tiếp tới 700 °C [1]Pha cân bằng CuAl₂ thay chỗ kết tủa á bền và đóng góp ít cho độ cứng [2]
Điều kiện để quy trình có nghĩaChi tiết phải đã tôi ra mactenxit; [1] mô tả cho thép cacbon thườngHệ hợp kim phải có dung dịch rắn giới hạn với độ hoà tan giảm khi nhiệt độ giảm [2]
Biến dạng và nứt[3] ghi phải ram càng sớm càng tốt vì nứt xuất hiện trong hoặc sau khi tôi[4] ghi hoá già không làm chi tiết vênh méo

Các nguồn [1]–[6] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Trị số nhiệt độ trong bảng là của tài liệu được dẫn, không phải quy tắc chung cho mác thép hay mác nhôm nào khác.

Vì sao cùng nung lại sau khi tôi mà một bên mềm đi, một bên cứng lên?

Hai quy trình dùng chung một chữ "quá bão hoà", nhưng quá bão hoà ở hai trạng thái khác nhau.

Với thép, [1] viết thẳng: mactenxit là dung dịch rắn quá bão hoà cacbon trong sắt, và khi ram thì nó thải cacbon ra để tạo các pha cacbit phân tán mịn. Chính sự quá bão hoà ấy — cacbon xen kẽ giữ mạng ở dạng chính phương — là thứ cho độ cứng ngay sau khi tôi. Nung lại cho cacbon khuếch tán ra ngoài; đến hết giai đoạn ba, nền mất hẳn tính chính phương và trở thành ferit không còn quá bão hoà cacbon [1].

Với hợp kim nhôm, [2] viết ngược lại về trình tự: sau khi tôi, chi tiết ở trạng thái dung dịch rắn quá bão hoà αSS chứa dư đồng, không phải tổ chức cân bằng — nhưng trong đó chưa có hạt kết tủa nào. Chỉ khi nung lại dưới đường solvus, kết tủa phân tán mịn mới hình thành, cản chuyển động lệch và làm hợp kim bền lên [2]. Nói cách khác, bước tôi của hợp kim nhôm mới chỉ giữ nguyên tố hợp kim ở trong dung dịch, chưa sinh ra độ bền.

Cách hiểu của bài: điểm phân biệt nằm ở chỗ độ cứng sinh ra tại bước nào. Thép nhận độ cứng ở bước tôi rồi trả bớt ở bước ram; hợp kim nhôm nhận độ bền ở bước hoá già.

[2] còn tách ba cơ chế mà hạt kết tủa dùng để cản lệch: tương tác giữa lệch với trường biến dạng quanh vùng GP hay kết tủa liên kết mạng; ứng suất phải tăng để lệch cắt qua kết tủa liên kết mạng; và ứng suất tiếp phải tăng để lệch đi vòng qua hạt không liên kết mạng. Đây là chỗ giải thích vì sao hoá già quá đà lại mất tác dụng: khi kết tủa á bền bị pha cân bằng CuAl₂ thay chỗ, [2] ghi pha này đóng góp ít cho độ cứng.

Ở phía thép, chỗ tương ứng là thô hoá hạt. [1] mô tả quá trình Ostwald ripening: hạt xementit nhỏ tan lại vào nền, cấp cacbon cho hạt lớn chọn lọc lớn lên. Cùng một ý "hạt to thì không cản được nữa", nhưng đến từ hai đường khác nhau.

Bốn giai đoạn của ram và ba bước của hoá già

[1] chia ram thép cacbon thường thành bốn giai đoạn chồng lấn nhau:

  • Giai đoạn 1, tới 250 °C. Mactenxit của thép 0,3–1,5 % C không ổn định ngay ở nhiệt độ phòng vì cacbon xen kẽ khuếch tán được trong mạng chính phương; từ nhiệt độ phòng tới 250 °C, cacbit α-sắt kết tủa và mactenxit mất một phần tính chính phương [1].
  • Giai đoạn 2, 230–300 °C. Austenit dư giữ lại sau khi tôi phân huỷ; [1] ghi bằng chứng hiện có cho thấy nó phân huỷ thành bainit, ferit và xementit.
  • Giai đoạn 3, 100–300 °C. Xementit xuất hiện dạng thanh phân bố Widmanstatten; hạt dài tới 200 nm và đường kính khoảng 15 nm [1]. Nền mất hẳn tính chính phương và thành ferit.
  • Giai đoạn 4, 300–700 °C. Thô hoá bắt đầu trong khoảng 300 đến 400 °C, cầu hoá tiếp diễn tới 700 °C; ranh giới tấm mactenxit ban đầu giữ ổn định tới khoảng 600 °C [1].

Hệ quả cơ tính của cả chuỗi ấy được [1] nêu cho một nhóm thép cụ thể: thép 0,25–0,55 % C tôi rồi ram trong khoảng 300 đến 700 °C cho độ bền kéo từ 800 đến 1700 MPa, với độ dai tăng lên khi độ bền kéo giảm xuống. Đây là số của nhóm thép đó, không suy sang mác khác. Cách chọn nhiệt độ tôi trước bước ram là bài riêng: cách tính nhiệt độ tôi theo mác thép.

[3] xếp ram theo ba nhóm nhiệt độ gắn với yêu cầu độ cứng: ram nhiệt độ thấp 160 đến 300 ºC cho chi tiết thấm bề mặt và thép dụng cụ gia công nguội, yêu cầu độ cứng quanh 60 HRC; ram thép lò xo 300 đến 500 ºC, yêu cầu quanh 45 HRC; ram nhiệt độ cao từ 500 °C trở lên cho thép tôi-ram, thép dụng cụ gia công nóng và thép gió, yêu cầu độ cứng từ 300 HB đến 65 HRC tuỳ vật liệu. Đây là cách phân nhóm của một nhà rèn, không phải bảng tra cho mác thép cụ thể.

Phía hoá già gọn hơn. [2] ghi quy trình gồm ba bước: xử lý dung dịch, tôi, rồi hoá già. Bước xử lý dung dịch nung hợp kim lên trên đường solvus để được dung dịch rắn đồng nhất, hoà tan các kết tủa θ và giảm thiên tích; bước tôi làm nguội nhanh để có dung dịch quá bão hoà; bước hoá già nung dưới đường solvus để sinh kết tủa phân tán mịn [2]. Điều kiện nền của cả chuỗi là hệ hợp kim phải có dung dịch rắn giới hạn với độ hoà tan giảm khi nhiệt độ giảm — [2] lấy giản đồ pha Al-Cu làm ví dụ, nơi độ hoà tan rắn giảm mạnh từ 550 °C xuống 75 °C.

[4] bổ sung cái tên thứ hai và một ranh giới thực dụng: hoá già nhân tạo là quy trình dùng để đưa một số hợp kim nhôm tới độ cứng lớn nhất khi hoá già tự nhiên một mình chưa đủ. Cũng theo [4], các hợp kim nhôm đều cần tôi trong nước hoặc nước muối loãng, còn một số mác thì hoá cứng dần ngay khi để già trong không khí. Hệ ký hiệu ghi lại trạng thái đó nằm ở bài hệ đánh số và ký hiệu temper của hợp kim nhôm; phân biệt nhôm đúc với nhôm biến dạng ở bài nhôm đúc và nhôm biến dạng.

Ba mẹo sai hay gặp khi gộp hai quy trình

Mẹo sai 1: "Ram và hoá già cùng là nung lại sau khi tôi nên bản chất là một, chỉ khác vật liệu." [1] ghi ram là quá trình mactenxit thải cacbon ra khỏi dung dịch rắn quá bão hoà để tạo cacbit phân tán trong nền α-sắt; [2] ghi hoá già là quá trình kết tủa pha thứ hai từ dung dịch rắn quá bão hoà để cản chuyển động lệch và làm hợp kim bền lên. Cùng điểm xuất phát là quá bão hoà, nhưng một bên bỏ đi cái đang gây cứng, một bên tạo ra cái sẽ gây cứng.

Mẹo sai 2: "Hợp kim nhôm nào cũng hoá già được, cứ nung lên là bền." [2] đặt điều kiện rõ: hệ hợp kim phải có dung dịch rắn giới hạn mà độ hoà tan giảm khi nhiệt độ giảm thì mới hoá bền bằng kết tủa được. [2] cũng chỉ nêu ba họ 2xxx, 6xxx và 7xxx là nơi cho các hợp kim nhôm bền nhất làm bằng hoá già. Ngoài điều kiện đó, nung lại không sinh ra cơ chế cản lệch mà bài đang nói tới.

Mẹo sai 3: "Hoá già càng lâu, càng nóng thì càng cứng." [2] ghi vùng GP phát triển thành kết tủa θ', rồi cuối cùng bị pha cân bằng CuAl₂ thay chỗ — và pha cân bằng này đóng góp ít cho độ cứng. Đường đi của tổ chức có điểm dừng, quá điểm đó thì thêm nhiệt và thêm giờ đi ngược lại mục tiêu.

Mẹo sai 4: "Tôi xong cứ để đấy, hôm sau ram cũng được." [3] ghi phải ram càng sớm càng tốt, vì nứt có thể xuất hiện trong hoặc sau khi tôi tuỳ hình dáng, vật liệu và các yếu tố khác, làm hỏng chất lượng và độ toàn vẹn của thép. [5] nói cùng hướng: ram ngay sau khi tôi cứng cho kết quả tốt nhất. Biến dạng và lượng dư để lại sau nhiệt luyện là chuyện của bài biến dạng sau nhiệt luyện và lượng dư mài.

Bảng quyết định: thấy gì tại xưởng thì đang cần việc nào

Thấy hoặc đo được tại xưởngLàm gìCăn cứ
Chi tiết thép vừa ra khỏi bể tôi, đo được độ cứng cao, gõ thử thấy giònĐưa vào ram; không để qua ca[1] mactenxit bền nhưng giòn; [3] nứt xuất hiện trong hoặc sau khi tôi
Chi tiết nhôm vừa tôi xong, đo độ cứng thấy thấp hơn yêu cầu bản vẽĐây là trạng thái chờ hoá già, không phải phế phẩm; tra trạng thái temper theo hồ sơ vật liệu[2] sau khi tôi mới là dung dịch quá bão hoà, kết tủa chưa hình thành
Hồ sơ vật liệu không ghi hợp kim nhôm thuộc hệ nào, không ghi ký hiệu temperChưa kết luận chi tiết hoá già được; hỏi lại nơi cấp vật liệu[2] điều kiện hoá bền kết tủa là độ hoà tan rắn giảm theo nhiệt độ
Mẻ thép ram xong đo độ cứng thấp hơn mẻ trước, lò báo nhiệt độ đặt cao hơnSoát lại nhiệt độ đặt trước khi soát vật liệu[1] xementit thô hoá rồi cầu hoá khi nhiệt độ lên cao
Chi tiết nhôm giữ trong lò hoá già lâu hơn mẻ trước mà độ cứng không tăngDừng kéo dài thời gian; soát lại nhiệt độ và thời gian so với hồ sơ quy trình[2] pha cân bằng thay chỗ kết tủa á bền thì đóng góp ít cho độ cứng
Chi tiết thép ram xong bị vênh, phải sửa nguộiGhi lại lượng dư gia công cho mẻ sau; xem lại bước tôi chứ không chỉ bước ram[3] nứt và hỏng độ toàn vẹn gắn với bước tôi
Chi tiết nhôm sau hoá già bị vênhSoát lại bước tôi và gá kẹp, không quy cho bước hoá già trước[4] ghi hoá già không làm chi tiết vênh méo
Bản vẽ chỉ ghi "nhiệt luyện", không ghi độ cứng đích hay trạng thái vật liệuTrả lại bản vẽ xin bổ sung; không tự chọn nhiệt độ[1] và [3] đều gắn nhiệt độ với nhóm vật liệu và yêu cầu độ cứng

Nguồn và giới hạn

Tra ngày 12/09/2026. Mỗi câu dẫn đã được đối chiếu nguyên văn trên bản tải trực tiếp từ trang nguồn.

  • [1] Total Materia, The Tempering of Martensite: Part One: https://www.totalmateria.com/en-us/articles/the-tempering-of-martensite-1/ — mactenxit là dung dịch rắn quá bão hoà cacbon; bốn giai đoạn ram và khoảng nhiệt độ của từng giai đoạn; kích thước hạt xementit; thô hoá và cầu hoá; Ostwald ripening; độ bền kéo của nhóm thép 0,25–0,55 % C sau ram.
  • [2] Total Materia, Precipitation Hardening of Aluminum Alloys: https://www.totalmateria.com/en-us/articles/precipitation-hardening-of-aluminum-alloys/ — ba bước của hoá bền kết tủa; điều kiện độ hoà tan rắn giảm theo nhiệt độ; giản đồ Al-Cu; ba cơ chế cản lệch; vùng GP, kết tủa θ' và pha cân bằng CuAl₂.
  • [3] ULMA Forged Solutions, Tempering explained: a low-temperature heat treatment: https://www.ulmaforge.com/en/new/tempering-explained-a-low-temperature-heat-treatment/ — định nghĩa ram; ba nhóm nhiệt độ ram kèm yêu cầu độ cứng; mục tiêu ram là giảm giòn và đánh đổi độ cứng; phải ram sớm sau khi tôi.
  • [4] L&L Special Furnace, Aluminum Heat Treatment: Precipitation Hardening: https://llfurnace.com/blog/aluminum-heat-treatment-precipitation-hardening/ — hoá già nhân tạo và hoá già tự nhiên; khoảng nhiệt độ hoá già kèm dung sai; thời gian giữ; kết quả cứng hơn, bền hơn, kém dẻo hơn; không gây vênh méo.
  • [5] thyssenkrupp Materials (UK), Tempering: https://www.thyssenkrupp-materials.co.uk/technical-knowledge-hub/tempering — nung dưới nhiệt độ tới hạn rồi làm nguội trong không khí; nhiệt độ ram gắn với ứng dụng; ram ngay sau khi tôi; và câu nói ram làm thép cứng thêm, ngược với [3].
  • [6] L&L Special Furnace, Steel Heat Treatment: Tempering Steel Alloys: https://llfurnace.com/blog/steel-heat-treatment-tempering-steel-alloys/ — ram giữ hoặc cải thiện độ cứng tuỳ nguyên tố hợp kim; ram trong chân không hoặc khí trơ.
  • Tiêu chuẩn, chỉ dẫn tên và số hiệu: ISO 4885 Ferrous materials — Heat treatments — VocabularyISO 2107 Aluminium and aluminium alloys — Wrought products — Temper designations. Tên đối chiếu trên trang mục lục của evs.ee vì iso.org chặn truy cập tự động. Tài liệu trả phí; bài không trích trị số.

Bảng này không dùng cho:

  • Chọn nhiệt độ và thời gian ram cho một mác thép cụ thể: bài không nêu.
  • Chọn chế độ hoá già cho một mác hợp kim nhôm cụ thể: bài không nêu.
  • Phân xử chiều thay đổi độ cứng khi ram: ba nguồn đã kiểm nói ngược nhau.
  • Hoá bền kết tủa của thép không gỉ, hợp kim niken hay hợp kim titan: chỉ được nhắc tên, không đối chiếu.
  • Hồ sơ nghiệm thu theo TCVN hay JIS: bài chưa đối chiếu.

Không xác định được từ bài này: đường cong độ cứng theo thời gian giữ của một mác hợp kim nhôm, kể cả điểm đạt đỉnh và điểm bắt đầu quá già — nguồn đã kiểm chỉ nêu cơ chế; độ cứng đạt được sau khi ram một mác thép cụ thể ở một nhiệt độ cụ thể; và lý do ba nguồn mô tả chiều độ cứng khi ram khác nhau, vì không nguồn nào giải thích chỗ lệch.

Cần chính xác hơn: đọc trình tự tôi, ram và thấm trong một chuỗi ở nguyên lý tôi, ram, thấm cacbon; phân biệt ram với ủ, thường hoá và khử ứng suất ở ủ, thường hoá, khử ứng suất. Việc chọn môi trường tôi trước bước ram nằm ở cặp tôi dầu và tôi khí chân không; còn tổ chức nhận được ngay tại bước tôi là chuyện của tôi phân cấp và tôi đẳng nhiệt.

Câu hỏi thường gặp

Ram thép là gì? Là bước nung lại chi tiết đã tôi ở nhiệt độ dưới điểm tới hạn rồi làm nguội, theo [5]. Về tổ chức, [1] mô tả đó là quá trình mactenxit quá bão hoà thải cacbon ra thành cacbit phân tán mịn trong nền α-sắt, với khoảng nhiệt độ 150–700 °C cho thép mactenxit.

Hoá già hợp kim nhôm là gì? Là bước thứ ba của chuỗi hoá bền kết tủa gồm xử lý dung dịch, tôi và hoá già, theo [2]. Dung dịch rắn quá bão hoà được nung dưới đường solvus để sinh kết tủa phân tán mịn cản chuyển động lệch, nhờ đó hợp kim bền lên.

Hoá già tự nhiên và hoá già nhân tạo khác nhau ở đâu? [4] ghi hoá già nhân tạo là quy trình dùng khi hoá già tự nhiên một mình chưa đủ để đưa hợp kim tới độ cứng lớn nhất, và ghi một số mác hoá cứng dần khi để già trong không khí. Bài không nêu mác nào thuộc nhóm nào.

Ram làm thép cứng lên hay mềm đi? Ba nguồn đã kiểm nói ngược nhau: [3] ghi ram đánh đổi độ cứng và độ bền cơ học để giảm giòn; [5] ghi ram làm thép cứng thêm và dai hơn; [6] ghi ram giữ hoặc cải thiện độ cứng tuỳ nguyên tố hợp kim. Bài không phân xử; phải lấy số từ hồ sơ quy trình của đúng mác thép.

Ram ở nhiệt độ nào thì được bao nhiêu HRC? Bài không cho bảng tra. [3] chỉ nêu ba nhóm gắn yêu cầu độ cứng với dải nhiệt độ: quanh 60 HRC cho nhóm 160 đến 300 ºC, quanh 45 HRC cho nhóm 300 đến 500 ºC, và từ 300 HB đến 65 HRC cho nhóm từ 500 °C trở lên. Đó là cách phân nhóm của một nhà rèn, không phải bảng tra theo mác.

Vì sao hoá già quá lâu lại mất tác dụng? [2] ghi vùng GP phát triển thành kết tủa θ' rồi bị pha cân bằng CuAl₂ thay chỗ, và pha cân bằng đóng góp ít cho độ cứng. Ý tương tự bên thép là thô hoá hạt xementit theo cơ chế Ostwald ripening mà [1] mô tả.

Ram xong bao lâu thì phải làm? Có để hôm sau được không? [3] ghi phải làm càng sớm càng tốt vì nứt có thể xuất hiện trong hoặc sau khi tôi, [5] ghi ram ngay sau khi tôi cứng cho kết quả tốt nhất. Hai nguồn không cho mốc giờ cụ thể.

Đọc tiếp

Thuộc chuyên trang: Vật liệu & nhiệt luyệnNhiệt luyện