Trong ký hiệu dung sai, CHỮ quyết định vị trí miền — đó là sai lệch cơ bản; SỐ quyết định bề rộng. Hệ lỗ cơ sở giữ lỗ là H rồi đổi miền trục; hệ trục cơ sở giữ trục là h rồi đổi miền lỗ. Hai hệ tạo ra cùng những kiểu lắp như nhau.
Nội dung thuộc chuyên trang Đo lường & dung sai của cokhi.net, viết ở góc nguyên lý và tiêu chuẩn.
Sai lệch cơ bản là gì
Sai lệch cơ bản là sai lệch (trên hoặc dưới) gần đường không nhất của một miền dung sai — nó ghim miền đó vào một vị trí cố định so với kích thước danh nghĩa. Mỗi chữ cái ứng với đúng một vị trí:
| Nhóm chữ (trục, chữ thường) | Vị trí miền so với đường không | Kiểu lắp tạo ra với lỗ H |
|---|---|---|
| a, b, c, d, e, f, g | Nằm hoàn toàn dưới đường không | Lắp lỏng — khe hở giảm dần từ a về g |
| h | Sai lệch trên bằng 0, miền nằm dưới | Lắp lỏng sát, khe hở nhỏ nhất trong nhóm lỏng |
| js, j, k, m, n | Bắc qua hoặc sát đường không | Lắp trung gian — có thể khe hở nhỏ hoặc dôi nhẹ |
| p, r, s, t, u, v, x, y, z, za, zb, zc | Nằm hoàn toàn trên đường không | Lắp chặt — độ dôi tăng dần từ p về zc |
Nguồn: hệ ký hiệu miền dung sai theo ISO 286-1 (tương đương TCVN 2244); bảng trị số tra công khai tại RoyMech: https://www.roymech.co.uk/Useful_Tables/ISO_Tolerances/ISO_286_2s.html — tra ngày 26/08/2026. Trị số sai lệch cơ bản (µm) của từng chữ theo từng dải kích thước: đang cập nhật — bảng đầy đủ chỉ có trong bản gốc ISO 286-1, ⛔ không suy từ bảng kiểu lắp thông dụng.
Với lỗ, quy ước đối xứng: chữ HOA, và các chữ A…G nằm trên đường không (tạo khe hở), H có sai lệch dưới bằng 0, còn P…ZC nằm dưới (tạo độ dôi). Trị số cụ thể của các kiểu lắp thông dụng tra ở bảng kiểu lắp thông dụng H7/g6, H7/k6, H7/p6.
Hai hệ, cùng một kết quả
Cùng một tính chất lắp ghép luôn dựng được bằng cả hai hệ — ví dụ lắp lỏng trượt viết là H7/g6 trong hệ lỗ cơ sở, hoặc G7/h6 trong hệ trục cơ sở. Chọn hệ nào không đổi chức năng mối ghép; nó đổi chi tiết nào phải gia công theo cỡ đặc biệt.
| Bài toán của bạn | Chọn hệ | Vì sao |
|---|---|---|
| Trường hợp phổ thông: cả trục lẫn lỗ đều do bạn gia công | Hệ lỗ cơ sở | Lỗ khó gia công và khó kiểm hơn trục ⇒ giữ lỗ ở một cỡ chuẩn, chỉ cần một bộ dao doa/dưỡng cho nhiều kiểu lắp |
| Trục là vật tư có sẵn đúng cỡ h (trục kéo nguội, thanh định hình, trục dẫn hướng) | Hệ trục cơ sở | Không phải gia công lại cả cây trục; chỉ chỉnh lỗ theo |
| Một đoạn trục mang nhiều chi tiết với kiểu lắp khác nhau | Hệ trục cơ sở cho đoạn đó | Trục giữ một cỡ suốt chiều dài, khỏi phải tiện bậc chỉ để đổi kiểu lắp |
| Lắp ổ lăn | Cả hai, theo phía | Vòng trong và vòng ngoài của ổ đã chế tạo sẵn theo dung sai riêng ⇒ trục lấy theo hệ lỗ, lỗ gối lấy theo hệ trục — xem lắp ghép ổ lăn lên trục và gối |
Quy tắc chung gói trong một câu: giữ nguyên chi tiết khó sửa, đổi miền của chi tiết dễ gia công lại.
Sự cố thường gặp
- Trộn hai hệ trên một mối ghép. Ghi kiểu lắp dạng G7/g6 là vô nghĩa — không chi tiết nào là chuẩn, dung sai cộng dồn hai phía và kết quả khó đoán.
- Đổi hệ giữa chừng trên cùng một trục. Trục phải tiện thành nhiều bậc chỉ để đổi kiểu lắp, tăng nguyên công và thêm chỗ tập trung ứng suất.
- Ghi chữ mà quên số.
gkhông phải một miền dung sai — phải làg6,g7… vì thiếu số thì bề rộng miền chưa xác định. Thang bề rộng xem cấp chính xác IT01–IT18. - Dùng miền nhóm chặt (s, u, x…) mà không tính lực ép. Độ dôi lớn cần lực ép hoặc gia nhiệt, và sinh ứng suất trong chi tiết bao — xem mối ghép độ dôi: áp suất tiếp xúc và mô-men truyền.
Câu hỏi thường gặp
Sai lệch cơ bản là gì? Là sai lệch nằm gần đường không nhất của một miền dung sai — trị số ghim miền vào một vị trí xác định so với kích thước danh nghĩa. Trong ký hiệu, nó chính là phần CHỮ.
Hệ trục cơ sở là gì? Là cách dựng kiểu lắp bằng cách giữ trục ở miền h rồi đổi miền của lỗ (G7/h6, K7/h6, P7/h6…). Dùng khi trục là chi tiết có sẵn khó gia công lại.
H7/g6 và G7/h6 khác nhau thế nào? Về tính chất lắp ghép thì tương đương — cả hai đều là lắp lỏng trượt. Khác ở chỗ chi tiết nào giữ cỡ chuẩn: H7/g6 giữ lỗ chuẩn, G7/h6 giữ trục chuẩn.
Vì sao cơ khí phổ thông chuộng hệ lỗ cơ sở? Vì lỗ khó gia công và khó kiểm hơn trục. Giữ lỗ ở một cỡ chuẩn cho phép dùng chung một bộ dao doa, dưỡng và calip cho nhiều kiểu lắp khác nhau, trong khi trục thì tiện hoặc mài tới cỡ nào cũng được.
Chữ nào tạo lắp chặt? Với trục: từ p trở đi (p, r, s, t, u…) miền nằm hoàn toàn trên đường không nên luôn có độ dôi. Độ dôi tăng dần theo thứ tự bảng chữ cái.
Tài liệu tham khảo
- ISO 286-1:2010 — ISO code system for tolerances on linear sizes — Part 1: Basis of tolerances, deviations and fits (định nghĩa sai lệch cơ bản, hệ lỗ cơ sở và hệ trục cơ sở).
- TCVN 2244:1999 — Hệ thống ISO về dung sai và lắp ghép: https://tieuchuan.vsqi.gov.vn/tieuchuan/view?sohieu=TCVN+2244%3A1999
- Bảng tra miền dung sai trục theo ISO 286-2, RoyMech: https://www.roymech.co.uk/Useful_Tables/ISO_Tolerances/ISO_286_2s.html (tra 26/08/2026).
Nhãn minh bạch: Bài kiến thức nền do Ban Biên tập Kỹ thuật cokhi.net biên soạn. Sơ đồ là hình khái niệm, không theo tỉ lệ. Bảng phân nhóm chữ nêu vị trí tương đối của miền, ⛔ không nêu trị số µm của từng chữ — trị số đó phải tra bản gốc ISO 286-1.