Bơm cánh gạt có dầu dùng dầu làm kín khe giữa cánh và vỏ, nên khí thải mang sương dầu và hút hơi nước phải có gas ballast. Bơm vấu khô có rô-to không chạm nhau, buồng nén không cần dầu, môi chất hút không nhiễm dầu, nhưng hộp số vẫn dùng dầu.
Kết luận trên đúng khi so bơm cánh gạt bôi trơn dầu với bơm vấu (claw) khô, theo tài liệu của Busch và Leybold, hai hãng làm cả bơm có dầu lẫn bơm khô; bài chỉ dùng câu mô tả cơ chế. Nguồn đã kiểm không nói bơm khô chịu hơi nước tốt hơn hay kém hơn bơm có dầu, không có nguồn riêng cho bơm trục vít khô, và không đặt áp suất đáy hay lưu lượng hút của hai loại cạnh nhau, nên bài không so các điểm đó bằng số. Câu "không nhiễm môi chất" là của một dòng bơm vấu cụ thể của Busch.
Bảng đối chiếu bơm chân không có dầu và bơm chân không khô
| Tiêu chí | Bơm cánh gạt có dầu | Bơm khô |
|---|---|---|
| Làm kín khe hở | Dầu giúp làm kín khe giữa cánh gạt và vỏ [1] | Bơm vấu: hai rô-to quay ngược chiều, không chạm nhau và không chạm vỏ [2] |
| Dầu trong buồng nén | Có | Bơm vấu: không cần chất bôi trơn hay chất lỏng vận hành trong buồng nén [2] |
| Dầu và lọc ở chỗ khác | Bộ tách sương dầu gồm lọc dầu và lọc khí thải [1] | Một dòng bơm vấu của Busch vẫn có dầu hộp số và lọc cần thay [3] |
| Phát thải ra môi trường | Sương dầu vào không khí xung quanh; lọc khí thải giảm phát thải dầu xuống mức tối thiểu [1] | Dòng bơm vấu đó: không nhiễm môi chất được hút, không phát thải ra môi trường [3] |
| Đi ngược vào buồng chân không | Kể cả bơm cánh gạt hai cấp vẫn không tránh được một lượng nhỏ phân tử đi ngược từ trong bơm vào buồng [5] | Nguồn không so |
| Hơi nước | Nước ngưng nhũ hoá với dầu, làm hỏng tính bôi trơn rất nhanh, bơm có thể bó kẹt [4]; gas ballast chống ngưng nhưng áp suất riêng phần hơi hút vào có giới hạn [4] | Nguồn không so; Leybold mô tả một dòng bơm vấu cho hoá chất xếp các cấp bơm đứng để dễ thải nước ngưng [5] |
| Mòn trong buồng bơm | Nguồn không nêu | Bơm cánh gạt khô có cánh graphit sinh bụi graphit khi cánh cọ vào xi lanh [1] |
| Dải chân không | Nguồn không so | Một dòng bơm vấu của Busch làm việc trong dải chân không thô, không hợp luyện kim hay sản xuất màn hình phẳng cần chân không cao [2] |
| Phân loại theo Leybold [5] | Nguồn trích không nêu | Bơm vấu, cùng nhóm với bơm Roots: bơm piston quay nén khô |
| Phương pháp đo tính năng | ISO 21360-2:2020, chung cho bơm chân không thể tích | Như cột bên trái |
Nguồn [1]–[5] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 11/09/2026. Bảng không có con số áp suất hay lưu lượng: nguồn không đặt hai loại cạnh nhau bằng số. Dòng "hơi nước" của bơm khô còn mỏng nguồn; bài không suy ra kết luận so sánh.
Dầu làm kín khe hở: ưu điểm tạo ra chính phần phải xử lý
Busch ghi dầu giúp làm kín khe hở giữa các cánh gạt và vỏ bơm [1]. Bơm chân không bôi trơn dầu được lắp bộ tách sương dầu gồm lọc dầu và lọc khí thải; lọc khí thải bắt các hạt dầu trong khí xả, giảm phát thải dầu ra không khí xuống mức tối thiểu [1]. Dù vậy, chính Busch ghi nhược điểm của bơm cánh gạt bôi trơn dầu là dùng dầu, và dầu phát sương vào không khí xung quanh [1].
Chiều ngược lại cũng có. Leybold ghi kể cả bơm cánh gạt hai cấp cũng không tránh được một lượng nhỏ phân tử đi ngược từ bên trong bơm vào buồng chân không [5], trong đoạn bàn về hơi nước và hydrocarbon từ dầu bơm. Cách hiểu của bài: với buồng chân không hay sản phẩm không chịu được nhiễm dầu, "hai cấp" không phải lời giải; nguồn không cho lượng đi ngược bằng số.
Hơi nước: gas ballast giúp được, nhưng có giới hạn
Leybold mô tả chuyện gì xảy ra khi hơi nước ngưng trong bơm có dầu: nước nằm lại trong bơm và nhũ hoá với dầu, làm hỏng tính bôi trơn của dầu rất nhanh, và bơm có thể bó kẹt khi đã hút vào quá nhiều nước [4]. Cơ cấu gas ballast, do Wolfgang Gaede phát triển năm 1935, ngăn hơi ngưng tụ trong bơm [4]. Nhưng áp suất riêng phần của hơi hút vào không được vượt quá một giá trị nhất định [4]. Trong tài liệu nền tảng công nghệ chân không, Leybold ghi một trong các yêu cầu khi hút hơi là van gas ballast phải mở [5].
Cách hiểu của bài: gas ballast giữ hơi không ngưng trong bơm; giới hạn áp suất riêng phần là chỗ nó hết tác dụng, và vượt chỗ đó thì quay lại chuyện nước nhũ hoá dầu. Nguồn không cho giới hạn đó bằng số cho bơm chung. ISO 21360-2:2020 có phương pháp đo khả năng chịu hơi nước của bơm chân không thể tích, nên cách so hai bơm là so số đo theo cùng phương pháp đó.
Ở vế bơm khô, nguồn còn mỏng. Leybold mô tả một dòng bơm vấu cho hoá chất có dòng khí đi từ trên xuống qua các cấp bơm xếp đứng, để dễ thải nước ngưng và dung dịch rửa có thể đã hình thành [5]. Cách hiểu của bài: bơm khô không có dầu trong buồng nén để nhũ hoá, nhưng nước ngưng vẫn phải có đường ra. Nguồn đã kiểm không nói bơm khô chịu hơi nước tốt hơn hay kém hơn bơm có dầu; bài không so.
Bơm khô: không dầu trong buồng nén, không phải không dầu cả bơm
Busch mô tả bơm vấu: hai rô-to quay ngược chiều nhau, không chạm vào nhau và không chạm vỏ, nên buồng nén không cần chất bôi trơn hay chất lỏng vận hành [2]. Với dòng bơm vấu khô của hãng, không chi tiết chuyển động nào bên trong chạm nhau, và điều đó có nghĩa là môi chất được hút không bị nhiễm và không có phát thải ra môi trường [3]. Leybold xếp bơm vấu cùng nhóm với bơm Roots, là bơm piston quay nén khô [5].
Ca biên nằm ở chữ "trong buồng nén". Trang sản phẩm của chính dòng bơm vấu khô đó có hướng dẫn thay lọc và dầu hộp số [3]. Bơm khô vẫn có dầu ở hộp số và vẫn có lọc phải thay; chỉ là dầu không nằm trong dòng khí được nén.
Không phải bơm khô nào cũng không mòn trong buồng bơm. Busch ghi cánh gạt graphit của bơm cánh gạt khô sinh bụi graphit khi cánh cọ dọc theo thành xi lanh [1]. Và không phải bơm khô nào cũng hợp mọi dải chân không: dòng bơm vấu của Busch làm việc trong dải chân không thô, nên không hợp luyện kim hay sản xuất màn hình phẳng, vốn cần chân không cao [2]. Bơm trục vít khô chưa có nguồn hãng riêng trong phạm vi tra, bài không mô tả.
Ba mẹo sai về bơm có dầu và bơm khô
Mẹo sai 1: "Bơm cánh gạt có dầu hút hơi nước thoải mái, cứ mở gas ballast là xong." Leybold ghi áp suất riêng phần của hơi hút vào không được vượt một giá trị nhất định, và bơm có thể bó kẹt khi đã hút vào quá nhiều nước [4].
Mẹo sai 2: "Bơm khô là không có tí dầu nào, khỏi bảo dưỡng." Busch ghi không cần chất bôi trơn trong buồng nén [2], tức chỉ trong buồng nén; trang của dòng bơm vấu khô vẫn hướng dẫn thay lọc và dầu hộp số [3].
Mẹo sai 3: "Bơm có dầu đã có lọc khí thải thì không thải dầu." Lọc khí thải giảm phát thải dầu xuống mức tối thiểu, nhưng chính Busch ghi nhược điểm của bơm cánh gạt bôi trơn dầu là phát sương dầu vào không khí xung quanh [1].
Bảng quyết định: thấy gì quanh bơm thì làm gì
| Thấy hoặc đo được tại xưởng | Làm gì | Căn cứ |
|---|---|---|
| Có vệt dầu hoặc mùi dầu quanh cửa xả bơm cánh gạt | Kiểm lọc khí thải của bộ tách sương dầu | [1] |
| Mẫu dầu bơm có lẫn nước sau khi hút khí ẩm | Nước đang nhũ hoá với dầu, làm hỏng bôi trơn rất nhanh; xử lý dầu trước khi bơm bó kẹt | [4] |
| Quy trình hút có hơi nước, dùng bơm có dầu | Mở van gas ballast; hỏi số liệu khả năng chịu hơi nước đo theo ISO 21360-2, vì gas ballast có giới hạn | [4][5] |
| Buồng chân không hoặc sản phẩm không được nhiễm dầu | Nghiêng về bơm khô không dầu trong buồng nén; bơm có dầu kể cả hai cấp vẫn có một lượng nhỏ đi ngược | [3][5] |
| Bơm vấu khô đến kỳ bảo dưỡng | Vẫn thay dầu hộp số và lọc theo hướng dẫn hãng | [3] |
| Có bụi graphit ở cửa xả bơm cánh gạt khô | Bụi do cánh graphit mòn; tính lọc cho khí thải | [1] |
| Quy trình cần chân không cao, như luyện kim, màn hình phẳng | Bơm vấu làm việc trong dải chân không thô không hợp | [2] |
| Hai hồ sơ bơm ghi thông số khó so với nhau | Yêu cầu số liệu đo theo cùng phương pháp ISO 21360-2:2020 | Tiêu chuẩn |
Nguồn và giới hạn
Tra ngày 11/09/2026. Các câu dẫn đã được đối chiếu trên văn bản tải trực tiếp từ trang gốc.
- [1] Busch Vacuum Solutions, Rotary Vane Vacuum & Overpressure Technology: https://www.buschvacuum.com/global/en/products/vacuum-pumps/rotary-vane/rotary-vane-technology/ — dầu làm kín khe cánh và vỏ; bộ tách sương dầu; nhược điểm sương dầu; bụi graphit của cánh gạt khô.
- [2] Busch, Claw vacuum pumps and compressors: https://www.buschvacuum.com/us/en/products/vacuum-pumps/claw/claw-technology/ — rô-to không chạm nhau; không chất bôi trơn trong buồng nén; giới hạn dải chân không thô.
- [3] Busch, MINK Dry claw vacuum pumps and compressors: https://www.buschvacuum.com/global/en/products/vacuum-pumps/claw/mink/ — chi tiết chuyển động không chạm nhau; không nhiễm môi chất, không phát thải; hướng dẫn thay lọc và dầu hộp số.
- [4] Leybold, What is a gas ballast and how does it work (Fundamentals of Vacuum Technology): https://www.leybold.com/en-us/knowledge/vacuum-fundamentals/vacuum-generation/how-does-a-gas-ballast-work — nước nhũ hoá dầu, bơm bó kẹt; gas ballast của Gaede 1935; giới hạn áp suất riêng phần hơi.
- [5] Leybold, Fundamentals of Vacuum Technology (PDF, Part No. 199 90): https://www.leybold.com/content/dam/brands/leybold/downloads/brochures/general-brochures/Fundamentals_of_Vacuum_Technology_EN.pdf — van gas ballast phải mở khi hút hơi; phân tử đi ngược ở bơm hai cấp; phân loại bơm vấu; bơm vấu cho hoá chất thải nước ngưng.
- Busch và Leybold đều làm cả bơm có dầu lẫn bơm khô; bài chỉ dùng câu mô tả cơ chế, không so dòng sản phẩm.
- Tiêu chuẩn, chỉ dẫn tên và số hiệu: ISO 21360-2:2020 Vacuum technology — Standard methods for measuring vacuum-pump performance — Part 2: Positive displacement vacuum pumps (tên đối chiếu tại en-standard.eu; phạm vi công bố gồm phương pháp đo lưu lượng hút, áp suất đáy, khả năng chịu hơi nước, công suất tiêu thụ và nhiệt độ khởi động thấp nhất); ISO 21360-1:2020 Vacuum technology — Standard methods for measuring vacuum-pump performance — Part 1: General description (tên đối chiếu tại en-standard.eu và BSI Knowledge). Tài liệu trả phí; bài không trích trị số.
Bảng này không dùng cho:
- So áp suất đáy, lưu lượng hút hay công suất của hai loại bằng số: nguồn không đặt cạnh nhau.
- Kết luận bơm khô chịu hơi nước tốt hơn hay kém hơn bơm có dầu: chưa có nguồn.
- Bơm trục vít khô: chưa có nguồn hãng riêng.
- Chọn bơm theo hãng hay theo mã: bài không so sản phẩm.
- Bơm vòng chất lỏng: ngoài phạm vi nguồn đã tra.
Không xác định được từ bài này: bơm của bạn chịu được bao nhiêu hơi nước trước khi dầu hỏng — chỉ số liệu đo theo phương pháp chuẩn của chính bơm đó trả lời được.
Cần chính xác hơn: kỹ thuật phân tích dầu dùng trong bảo trì dự đoán, để phát hiện dầu bơm bị nhiễm, ở phân tích dầu, chụp nhiệt hồng ngoại, siêu âm.
Câu hỏi thường gặp
Bơm chân không vòng dầu là gì? Các nguồn đã kiểm không dùng tên gọi này, nên bài không định nghĩa nó. Nếu ý là bơm cánh gạt bôi trơn dầu, Busch ghi dầu giúp làm kín khe giữa cánh gạt và vỏ, và bơm có bộ tách sương dầu gồm lọc dầu và lọc khí thải.
Bơm chân không có dầu và bơm khô khác nhau thế nào? Bơm cánh gạt có dầu dùng dầu làm kín khe hở, nên khí thải mang sương dầu và hơi nước ngưng thì nhũ hoá dầu. Bơm vấu khô có rô-to không chạm nhau, buồng nén không cần dầu, nhưng hộp số vẫn dùng dầu và lọc vẫn phải thay, theo Busch.
Gas ballast là gì? Là cơ cấu do Wolfgang Gaede phát triển năm 1935, ngăn hơi ngưng tụ trong bơm, theo Leybold. Nó có giới hạn: áp suất riêng phần của hơi hút vào không được vượt một giá trị nhất định.
Bơm chân không hai cấp có hết nhiễm dầu ngược vào buồng không? Không hết. Leybold ghi kể cả bơm cánh gạt hai cấp cũng không tránh được một lượng nhỏ phân tử đi ngược từ trong bơm vào buồng chân không.
Bơm chân không khô có cần thay dầu không? Có ở hộp số. Busch ghi bơm vấu không cần chất bôi trơn trong buồng nén, nhưng trang của dòng bơm vấu khô vẫn hướng dẫn thay lọc và dầu hộp số.
Bơm khô có chịu hơi nước tốt hơn bơm có dầu không? Nguồn đã kiểm không so điểm này. Leybold chỉ mô tả một dòng bơm vấu cho hoá chất bố trí dòng khí từ trên xuống để dễ thải nước ngưng. Muốn so, dùng số liệu khả năng chịu hơi nước đo theo ISO 21360-2.