Chuyển đến nội dung chính
CƠ KHÍ.NET
Thiết kế & chế tạo máy

Gối đỡ UC và gối đỡ SN: giữ ổ bằng vít cấy hay bằng ống lót, và hệ quả lên bôi trơn

Nguyễn Đỗ Tùng

Biên soạn có hỗ trợ công cụ · nguồn dẫn kèm · cập nhật

Gối đỡ UC giữ ổ trên trục bằng vít cấy, cổ lệch tâm hoặc ống lót côn; SKF ghi ổ vòng trong rộng của nó tra sẵn mỡ, chạy ở chế độ thông thường mà không tra lại. Gối đỡ SN tách đôi thành nắp và thân, nhận ổ tự lựa và cho tra lại mỡ.

Kết luận trên đúng khi hiểu UC và SN là hai ký hiệu dãy kết cấu dùng chung trong ngành, không phải sản phẩm của một hãng. Phạm vi nguồn: vế UC dựa vào một catalogue của SKF và một catalogue gối đỡ bi của NSK; vế SN chỉ dựa vào một catalogue gối đỡ của SKF, dãy mà chính hãng ghi là thay cho dãy SN. Vì hai vế không cùng số nhà xuất bản, chênh lệch giữa hai cột phải đọc là chênh lệch giữa hai kết cấu, không phải giữa hai hãng.

Bảng đối chiếu gối đỡ UC và gối đỡ SN

Tiêu chíGối đỡ kiểu UCGối đỡ kiểu SN
Cụm gồm những gì, ổ nào nằm trongSKF: ổ bi vòng trong rộng đã lắp sẵn vào thân gang hoặc thép dập, tra sẵn mỡ [1]; NSK: kết cấu trong của ổ dùng bi và vòng cách cùng kiểu ổ bi rãnh sâu dãy 62 và 63 [3]SKF: thân tách đôi thành nắp và thân, chọn ổ và phớt riêng theo nguyên tắc lắp ghép khối; ổ dùng được là ổ bi tự lựa, ổ đũa tang trống hoặc ổ đũa xuyến CARB [2]
Cách giữ ổ trên trụcSKF: lắp trượt lên trục rồi khóa bằng vít cấy, cổ tự khóa lệch tâm, hoặc kiểu khóa đồng tâm [1]; NSK: vít cấy đầu bi, lỗ côn với ống lót, hoặc cổ khóa lệch tâm [3]SKF: trục trơn thì ổ nằm trên ống lót côn; trục bậc thì ổ nằm trên ngõng trụ [2]
Bù lệch trụcSKF: mặt ngoài của ổ và mặt trong của thân đều là mặt cầu, cho ổ xoay trong thân để bù lệch ban đầu [1]SKF: tính tự lựa nằm ở bản thân ổ được chọn, tức ổ bi tự lựa, ổ đũa tang trống hoặc CARB [2]
Góc lệch cho phépSKF: bù được tới ±5° lệch tĩnh; nhưng nếu muốn tra lại mỡ ở thân gang thì sai lệch ban đầu không quá ±2° với cỡ ổ 211 trở xuống và ±1,5° với cỡ lớn hơn [1]Nguồn không nêu con số cho thân gối; góc cho phép là của ổ lắp trong, tra ở bảng đặc tính của ổ đó [2]
Bôi trơnSKF: ổ vòng trong rộng được thiết kế chạy không tra lại mỡ ở tốc độ và điều kiện thông thường, hai bên đều có phớt tiếp xúc [1]; NSK: mỡ chiếm khoảng một nửa đến một phần ba không gian trong ổ [3]SKF: dãy có phớt tiêu chuẩn dùng mỡ; khoang trong ổ nạp đầy, khoang trong thân nạp 20 đến 40 % thể tích rỗng [2]
Tra lại mỡNSK: bản tra lại được cho phép bơm mỡ ngay cả khi lệch 2° sang trái hoặc sang phải [3]SKF: thân gối cho tra lại mỡ cho cả ổ lẫn phớt, có lỗ ren sẵn cho vú mỡ [2]
Môi trường bẩnSKF: chọn theo bộ phớt của dãy; phớt NBR của một dãy giới hạn ở dải làm việc liên tục −40 °F đến 210 °F [1]SKF: chọn trong năm kiểu phớt — bốn môi, V-ring, mê cung, chịu nặng và phớt nỉ; bẩn nhiều và chậm thì nạp mỡ 70 đến 80 % [2]
Thay ổ khi hỏngNSK: ổ trong cụm thay được, lắp ổ mới vào đúng thân cũ [3]SKF: thân tách đôi, nhưng nắp và thân ghép đôi khi chế tạo, không lắp lẫn với gối khác; mỗi nửa có số sê ri riêng [2]
Vật liệu thân và số hiệu tiêu chuẩnSKF: gang hoặc thép dập; nguồn không nêu số hiệu [1]SKF: gang xám hoặc gang cầu, dãy đang xét bằng gang xám; ISO 113 cho thân tách đôi bắt hai bu lông [2]

Nguồn [1]–[3] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 13/09/2026. Các con số góc, phần trăm nạp mỡ và nhiệt độ là trị số của tài liệu hãng cho từng dãy sản phẩm, không phải trị số chung cho kết cấu.

Bù lệch ban đầu và tự lựa khi chạy: hai thứ khác nhau

Cả hai kết cấu đều có một mặt cầu, nhưng mặt cầu ấy nằm ở chỗ khác nhau và làm việc khác nhau. Với gối kiểu UC, SKF ghi mặt ngoài của ổ và mặt trong của thân đều là mặt cầu, cho ổ xoay trong thân để bù lệch ban đầu [1]; NSK mô tả cùng kết cấu ấy và nói lệch trục sinh ra do gia công trục kém hoặc do lắp sai sẽ được chỉnh lại [3]. Đây là hai mặt kim loại tì nhau, xoay một lần khi lắp rồi đứng yên.

Với gối kiểu SN thì khác. SKF không gán tính tự lựa cho thân gối; danh sách ổ dùng được cho dãy này gồm ổ bi tự lựa, ổ đũa tang trống và ổ đũa xuyến CARB [2] — tức tính tự lựa nằm trong bản thân ổ, ở rãnh cầu chung của vòng ngoài. Nguyên lý đó nằm ở bài ổ bi tự lựa và ổ bi đỡ một dãy.

Cách hiểu của bài: một khớp cầu chỉ xoay lúc lắp thì bù được sai số lắp đặt, còn một ổ tự lựa thì theo được cả độ võng thay đổi trong lúc chạy. Chữ dùng trong hai tài liệu đúng theo hai nghĩa đó, và người chọn gối nên đọc kỹ chữ "ban đầu".

Con số của SKF cho gối kiểu UC còn có một nút thắt ít ai để ý. Cụm bù được tới ±5° lệch tĩnh, nhưng nếu muốn tra lại mỡ ở thân gang thì sai lệch ban đầu không được quá ±2° với cỡ ổ 211 trở xuống và ±1,5° với cỡ lớn hơn; lệch quá mức đó làm lỗ dầu trên vòng ngoài không thẳng hàng với rãnh trong lòng thân, và mỡ không vào được ổ [1]. Nghĩa là góc lắp lệch không chỉ ảnh hưởng đến ổ, nó quyết định đường mỡ có thông hay không.

Cách khóa lên trục kéo theo giới hạn tốc độ và cách bảo trì

Ba kiểu khóa của gối kiểu UC đều tác động lên vòng trong: SKF liệt kê vít cấy, cổ tự khóa lệch tâm và kiểu khóa đồng tâm [1]; NSK liệt kê vít cấy đầu bi, lỗ côn lắp bằng ống lót, và cổ khóa lệch tâm, đồng thời ghi rằng vít cấy đầu bi chống nới lỏng ngay cả khi ổ chịu rung và va đập mạnh [3].

Cái giá của cách khóa đó lộ ra ở tốc độ. NSK viết thẳng: với cả hệ vít cấy lẫn hệ cổ lệch tâm, chạy tốc độ cao làm biến dạng vòng trong và có thể gây rung ổ; muốn chạy tốc độ cao thì nên dùng lắp có độ dôi hoặc lắp có khe hở gần bằng không [3]. Cách đọc dấu hiệu rung của cụm gối nằm ở bài rung động máy theo ISO 20816.

Gối kiểu SN đi đường khác: ổ được kẹp lên trục theo đúng cách của ổ lăn rời. SKF nêu hai tổ hợp quen thuộc — trục trơn thì ổ nằm trên ống lót côn, trục bậc thì ổ nằm trên ngõng trụ [2]. Cách chọn kiểu lắp cho từng vòng quay nằm ở bài lắp ổ lăn lên trục và vào gối.

Bảo trì cũng rẽ theo hai hướng. Ở gối kiểu UC, SKF ghi ổ vòng trong rộng được thiết kế để chạy không tra lại mỡ ở tốc độ và điều kiện làm việc thông thường, hai bên đều có phớt tiếp xúc và nạp sẵn mỡ tuổi thọ dài [1]; NSK cho biết lượng mỡ chiếm khoảng một nửa đến một phần ba không gian trong ổ [3]. Ở gối kiểu SN, SKF viết thân gối cho tra lại mỡ cho cả ổ lẫn phớt, có lỗ ren sẵn cho vú mỡ, và cho quy tắc nạp: khoang trong ổ nạp đầy, khoang rỗng trong thân nạp 20 đến 40 % thể tích, lên 70 đến 80 % khi bẩn nhiều và chậm [2]. Chọn loại mỡ xem mỡ gốc lithi và mỡ polyurea.

NSK còn liệt kê các ca phải chuyển từ bản tra sẵn mỡ sang bản tra lại được: nhiệt độ ổ vượt 100 °C, bụi nhiều mà không đủ chỗ lắp nắp che, bị nước bắn thường xuyên, độ ẩm rất cao, tải nặng với tỉ số Cr/Pr khoảng 10 trở xuống ở tốc độ 10 vòng/phút trở xuống, và nơi số vòng quay tương đối cao mà tiếng ồn là vấn đề [3].

Ba mẹo sai hay gặp khi chọn giữa hai kiểu gối

Mẹo sai 1: "Gối UC tự lựa được nên gối bắt lệch bao nhiêu cũng chạy." SKF ghi mặt cầu ở gối kiểu UC dùng để bù lệch ban đầu, và giới hạn sai lệch ban đầu ở ±2° với cỡ ổ 211 trở xuống, ±1,5° với cỡ lớn hơn, nếu còn muốn tra lại mỡ; vượt mức đó thì lỗ dầu không thẳng hàng với rãnh trong thân [1]. Chữ trong tài liệu là bù lệch ban đầu, không phải theo lệch suốt lúc chạy.

Mẹo sai 2: "Gối SN tách đôi được nên nắp gối nào cũng lắp vừa thân gối nào." SKF ghi nắp và thân được ghép đôi ngay khi chế tạo và không lắp lẫn với nắp hay thân của gối khác, vì thế mỗi nửa mang một số sê ri riêng [2]. Tráo nắp giữa hai gối cùng cỡ là làm sai lỗ gối.

Mẹo sai 3: "Ổ trong gối UC hỏng thì phải bỏ cả cụm." NSK ghi ổ trong cụm là chi tiết thay được: khi ổ hỏng, lắp ổ mới vào đúng thân cũ [3]. Việc phải làm là đối chiếu đúng kiểu khóa và đúng bộ phớt, không phải mua lại cụm.

Bảng quyết định: thấy hoặc đo gì tại chỗ lắp thì nghiêng về kiểu nào

Đo hoặc thấy tại máyNghiêng vềCăn cứ
Trục trơn, cắt theo chiều dài tại xưởng, không có bậc và không có rãnh hãmGối kiểu UC khóa bằng vít cấy hoặc cổ lệch tâmSKF: cụm lắp trượt lên trục rồi khóa [1]; NSK: vít cấy đầu bi tì lên trục ở hai chỗ [3]
Đo được số vòng quay làm việc ở mức cao so với dải của máyKhông dùng khóa vít cấy hay cổ lệch tâm; xét lắp có độ dôiNSK: hai hệ khóa này làm biến dạng vòng trong ở tốc độ cao, có thể gây rung [3]
Đo lệch giữa hai mặt tựa gối lớn hơn mức nhà sản xuất ghi cho cụmKiểm lại mặt tựa trước khi chọn gối, hoặc chuyển sang gối nhận ổ tự lựaSKF: ±2° và ±1,5° là ngưỡng còn tra lại mỡ được của gối kiểu UC [1]
Bơm mỡ vào vú nhưng mỡ không ra ở khe phớt, gối vẫn nóngKiểm góc lắp lệch của cụm trước khi đổ lỗi cho mỡSKF: lệch quá ngưỡng làm lỗ dầu vòng ngoài lệch khỏi rãnh trong thân, mỡ không vào ổ [1]
Nhiệt độ ổ đo được vượt 100 °C, hoặc gối bị nước bắn thường xuyênChuyển sang bản tra lại được, không dùng bản tra sẵn mỡNSK liệt kê đúng các ca này [3]
Tải hướng kính lớn, có va đập, cần chọn riêng loại ổ cho vị trí nàyGối kiểu SNSKF: dãy này nhận ổ bi tự lựa, ổ đũa tang trống hoặc ổ đũa xuyến [2]
Môi trường nhiều bụi hạt mịn; hoặc cần tháo ổ ra kiểm mà không rút trụcGối kiểu SNSKF: năm kiểu phớt chọn được cho cùng thân gối, và thân tách đôi thành nắp và thân [2]

Nguồn và giới hạn

Tra ngày 13/09/2026. Các câu dẫn được đối chiếu trên bản PDF tải trực tiếp từ trang của hãng, trích chữ bằng pdftotext ở chế độ giữ bố cục cột.

  • [1] SKF, catalogue SKF bearings and mounted products (PDF): https://cdn.skfmediahub.skf.com/api/public/0901d196807026e8/pdf_preview_medium/0901d196807026e8_pdf_preview_medium.pdf — mục Ball bearing units: cấu tạo cụm vòng trong rộng, ba kiểu khóa, mặt cầu bù lệch ban đầu, ±5° lệch tĩnh và ngưỡng ±2° hoặc ±1,5° để còn tra lại mỡ, phớt tiếp xúc hai bên, dải nhiệt của phớt NBR một dãy.
  • [2] SKF, catalogue SKF bearing housings and roller bearing units (PDF): https://cdn.skfmediahub.skf.com/api/public/0901d196803969af/pdf_preview_medium/0901d196803969af_pdf_preview_medium.pdf — dãy gối đỡ tách đôi mà hãng ghi là thay cho dãy SN: loại ổ dùng được, hai tổ hợp trục và ổ, năm kiểu phớt, vật liệu, nắp và thân ghép đôi, quy tắc nạp và tra lại mỡ, số hiệu ISO 113.
  • [3] NSK, catalogue Ball Bearing Units (PDF): https://www.nsk.com/content/dam/nsk/common/catalogs/ctrgPdf/bearings/e1154f.pdf — cấu tạo cụm, ba cách lắp lên trục, vít cấy đầu bi chống nới lỏng, mặt cầu tự chỉnh lệch do gia công hoặc lắp sai, kết cấu trong theo dãy ổ bi rãnh sâu 62 và 63, ổ thay được, lượng mỡ trong ổ, biến dạng vòng trong ở tốc độ cao, các ca phải dùng bản tra lại được. Ký hiệu UC xuất hiện trong tài liệu này như mã dãy ổ lắp trong gối.
  • Tiêu chuẩn, chỉ nêu tên và số hiệu như tài liệu hãng ghi: ISO 113 — ô "Compliance to standards" của dãy gối đỡ tách đôi bắt hai bu lông. Tài liệu trả phí; bài không trích trị số bên trong.

Nói thẳng về bộ nguồn: bộ chỉ có ba tài liệu, hai trong ba là của cùng một hãng, và hai vế không cân — vế gối kiểu UC có hai nhà xuất bản, vế gối kiểu SN chỉ dựa vào đúng một catalogue. Chênh lệch giữa hai cột trong bảng vì thế phải đọc là chênh lệch giữa hai kết cấu, không phải giữa hai hãng.

Bảng này không dùng cho:

  • So tải động và tải tĩnh giữa hai kiểu gối: bài không nêu, đó là số của từng mã ổ và từng cỡ thân trong bảng sản phẩm.
  • Mô-men siết vít cấy và tốc độ giới hạn của cụm: bài không nêu số; bảng nguồn xếp theo mã ổ, còn về tốc độ nguồn chỉ nêu cơ chế.
  • Gối bích, gối căng đai, gối kiểu hộp và dãy gối tách đôi bôi trơn bằng dầu: chỉ được nhắc tên, không đối chiếu.
  • Yêu cầu pháp lý về che chắn hay an toàn khi lắp gối: bài không nêu.

Không xác định được từ bài này: khả năng tải của một gối kiểu UC so với một gối kiểu SN cùng cỡ trục — nguồn không đặt hai kết cấu này lên cùng một thang đo; và góc lắp lệch thực tại chỗ lắp, vì đó là số phải đo trên máy. Một câu của NSK có so tải, nhưng vế so là ổ bi tự lựa dùng trong gối đỡ tiêu chuẩn, nên không áp cho gối kiểu SN lắp ổ đũa tang trống.

Cần chính xác hơn: cách quy tải và tốc độ về tuổi thọ danh nghĩa của ổ nằm trong gối nằm ở bài tuổi thọ vòng bi L10.

Câu hỏi thường gặp

Gối đỡ UC giữ ổ trên trục bằng cách nào? Theo SKF, cụm được lắp trượt lên trục rồi khóa lại bằng vít cấy, bằng cổ tự khóa lệch tâm, hoặc bằng kiểu khóa đồng tâm. NSK liệt kê ba cách tương ứng: vít cấy đầu bi tì lên trục ở hai chỗ, lỗ côn lắp qua ống lót, và cổ khóa lệch tâm.

Gối đỡ UC tự lựa được bao nhiêu độ? SKF ghi cụm bù được tới ±5° lệch tĩnh. Cũng theo SKF, nếu còn muốn tra lại mỡ ở thân gang thì sai lệch ban đầu không quá ±2° với cỡ ổ 211 trở xuống và ±1,5° với cỡ lớn hơn, vì lệch quá mức đó làm lỗ dầu trên vòng ngoài không thẳng hàng với rãnh trong lòng thân.

Gối đỡ SN nhận được những loại ổ nào? Theo catalogue SKF cho dãy gối đỡ tách đôi thay cho dãy SN, các loại dùng được gồm ổ bi tự lựa, ổ đũa tang trống và ổ đũa xuyến CARB. Trục trơn thì ổ nằm trên ống lót côn, trục bậc thì ổ nằm trên ngõng trụ.

Có phải gối UC không cần tra mỡ lại không? SKF ghi ổ vòng trong rộng được thiết kế để chạy không tra lại mỡ ở tốc độ và điều kiện làm việc thông thường, với phớt tiếp xúc hai bên và mỡ tuổi thọ dài nạp sẵn. NSK liệt kê các ca phải dùng bản tra lại được, trong đó có nhiệt độ ổ vượt 100 °C, bụi nhiều, bị nước bắn, độ ẩm rất cao.

Vì sao gối UC không hợp tốc độ cao? NSK ghi rằng với cả hệ khóa bằng vít cấy lẫn hệ cổ lệch tâm, chạy tốc độ cao làm biến dạng vòng trong và có thể gây rung ổ. Khuyến nghị của NSK cho tốc độ cao là dùng lắp có độ dôi hoặc lắp có khe hở gần bằng không.

Đọc tiếp

Thuộc chuyên trang: Thiết kế & chế tạo máyChi tiết máy