Ổ lăn lỗ trụ lắp lên trục bằng độ dôi chọn sẵn qua dung sai ngõng trục, ép nguội hoặc nung rồi lồng vào. Ổ lỗ côn chưa có độ dôi: thợ đẩy vòng trong lên mặt côn của ngõng hay ống lót, độ dôi sinh ra lúc đẩy, đo bằng phần khe hở hướng kính mất đi.
Kết luận trên đúng khi nói về ổ lăn có vòng trong lắp lên trục quay, hai kiểu lỗ cùng một dãy ổ. Trị số khe hở trong bài lấy từ một bảng duy nhất: bảng khe hở hướng kính của ổ bi tự lựa trong catalogue SKF, cho ổ chưa lắp và không có tải đo. Nguồn đã kiểm không so tuổi thọ, khả năng tải hay tốc độ giữa hai kiểu lỗ, nên bài không kết luận về các mặt đó.
Bảng đối chiếu ổ lăn lỗ côn và ổ lăn lỗ trụ
| Tiêu chí | Ổ lăn lỗ côn | Ổ lăn lỗ trụ |
|---|---|---|
| Đường lên trục | Đẩy vòng trong lên ngõng trục côn, hoặc lên mặt côn của ống lót côn và ống lót tháo đặt trên trục trơn [1][2] | Ép nguội, hoặc nung cho vòng trong nở rồi lồng vào; NSK ghi ổ lớn khó ép nên hay dùng lắp nóng [2] |
| Độ dôi đến từ đâu | Sinh ra khi đẩy vòng trong lên mặt côn; SKF ghi ổ lỗ côn luôn được lắp có độ dôi trên trục, ống lót côn hoặc ống lót tháo [1] | Nằm sẵn trong cặp dung sai lỗ ổ và ngõng trục trước khi lắp; SKF nói tới độ dôi cần cho cả hai vòng khi chọn ổ tháo rời hay ổ liền khối [1] |
| Đo mức độ dôi bằng gì | Phần khe hở hướng kính đã mất đi, hoặc lượng dịch dọc trục của vòng trong trên mặt côn [1] | Nguồn đã kiểm không nêu phép đo tại chỗ tương đương |
| Khe hở của ổ chưa lắp, dãy ổ bi tự lựa cỡ lỗ 50 đến 65 mm, catalogue SKF [1] | Nhóm Normal 27 đến 47 µm, nhóm C3 41 đến 61 µm [1] | Nhóm Normal 16 đến 36 µm, nhóm C3 30 đến 50 µm [1] |
| Nhóm khe hở khi giao hàng | Ổ bi tự lựa lỗ côn: SKF ghi thường giao theo C3, có đánh dấu trên ổ [1] | Ổ bi tự lựa lỗ trụ: SKF ghi giao theo Normal, ký hiệu CN hoặc C0, không đánh dấu trên ổ [1] |
| Độ côn | Ổ bi tự lựa bản cơ sở của SKF dùng độ côn 1:12; ổ đũa xuyến CARB của SKF dùng 1:12 với hậu tố K, hoặc 1:30 với hậu tố K30 cho ít cỡ [1] | Không có mặt côn |
| Ngõng trục | SKF ghi ống lót thích ứng theo đường kính trục nên dung sai trục được nới; ngõng gia công tới h9 và độ trụ IT5/2 nói chung là đạt [1] | Chọn theo bảng lắp ghép của loại ổ và kiểu tải |
| Tháo | Ống lót côn cỡ nhỏ: chặn vòng trong bằng cữ, nới đai ốc vài vòng rồi gõ [3]; ổ lớn bơm dầu áp lực qua lỗ trên trục côn cho vòng trong nở [3] | Máy ép hoặc vam nhiều chấu, chấu phải bám hết mặt bên vòng trong [3]; ổ lớn bơm dầu qua lỗ dầu trên trục [3] |
Nguồn [1]–[4] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 13/09/2026. Trị số khe hở là của riêng dãy ổ bi tự lựa trong catalogue SKF, không phải trị số chung cho các loại ổ khác.
Vì sao lỗ côn đặt được độ dôi tại chỗ mà lỗ trụ thì không
Với lỗ trụ, đường kính lỗ ổ và đường kính ngõng trục đều là kích thước cố định sau khi gia công. Độ dôi chính là hiệu hai kích thước đó, và nó đã bị khoá lại từ lúc chọn dung sai trên bản vẽ. Người lắp chỉ còn việc đưa hai chi tiết vào nhau: NSK ghi máy ép là cách dễ nhất, còn với ổ lớn thì lực ép quá lớn nên hay chuyển sang lắp nóng, nung cho vòng trong nở rồi lồng vào trục để nó nguội và co lại [2].
Lỗ côn phá bỏ ràng buộc đó. Mặt lỗ là mặt côn, nên đường kính lỗ tại vị trí tiếp xúc thay đổi theo quãng đường vòng trong trượt dọc trục. Đẩy thêm một đoạn thì vòng trong nong ra thêm một chút, và độ dôi tăng theo. Cách hiểu của bài: đẩy càng sâu thì đường kính lỗ tại chỗ ngồi càng nhỏ so với mặt côn, phần chênh đó chuyển thành lượng nong vòng trong.
Vì độ dôi được tạo ra ngay tại chỗ nên nó cũng phải được đo ngay tại chỗ. SKF nêu hai thước đo cho việc này: phần khe hở hướng kính của ổ đã mất đi, hoặc lượng dịch dọc trục của vòng trong trên mặt côn [1]. NSK gọi khe hở còn lại sau khi lắp là khe hở dư, và giải thích khe hở giảm khi vòng ổ nở hoặc co do lắp chặt [2][4].
Đó là lý do hai kiểu lỗ được giao với nhóm khe hở khác nhau. Trong catalogue SKF, cùng dãy ổ bi tự lựa cỡ lỗ 50 đến 65 mm, bản lỗ trụ nhóm Normal có khe hở 16 đến 36 µm, còn bản lỗ côn nhóm Normal có 27 đến 47 µm [1]. Bản lỗ côn xuất xưởng với khe hở rộng hơn vì một phần khe hở đó sẽ bị tiêu đi trong lúc đẩy; cùng lý do, SKF ghi ổ bi tự lựa lỗ côn thường được giao theo nhóm C3 [1]. Cấp chính xác vòng ổ xem ở cấp chính xác vòng bi theo ISO 492.
SKF cũng cảnh báo phép đo này không dễ. Với ổ bi tự lựa lỗ côn, catalogue viết rằng việc lắp đòi hỏi kinh nghiệm và tay nghề vì khe hở trong của ổ tương đối nhỏ, và không phải lúc nào cũng đo được tin cậy phần khe hở đã giảm [1].
Ống lót côn và ống lót tháo: hai đường đưa lỗ côn lên một trục trơn
Lỗ côn không buộc phải có ngõng trục côn. SKF mô tả ống lót côn và ống lót tháo là chi tiết dùng để định vị ổ lỗ côn lên ngõng trục trụ hoặc trục bậc [1]; NSK viết cùng ý [2]. Hai loại ống lót không thay thế nhau. Theo SKF, ống lót côn phổ biến hơn vì lắp được lên cả trục thẳng lẫn trục bậc, dễ lắp hơn ống lót tháo và không cần thêm chi tiết định vị trên trục [1]. Ngược lại, ổ đặt trên ống lót tháo phải tì vào một gờ cố định, ví dụ vai trục, và ống lót tháo phải được hãm lại bằng đai ốc hoặc tấm chặn sau khi ép vào lỗ ổ [1]. Cách bố trí gối và chọn kiểu lắp theo vòng quay nằm ở lắp ghép ổ lăn lên trục và vào gối.
Ống lót đổi lại một thứ đáng giá cho xưởng cơ khí: dung sai trục. SKF ghi ống lót thích ứng theo đường kính trục nên dung sai trục được nới, và ngõng gia công tới h9 kèm độ trụ IT5/2 nói chung là đạt [1]. Về độ côn, SKF ghi ống lót côn của hãng có thiết kế xẻ rãnh và mặt côn ngoài 1:12, kích thước bản hệ mét theo ISO 2982-1:1995 [1].
Lực đẩy không nhỏ. SKF viết độ dôi cần thiết đạt được bằng cách đẩy ổ lên ống lót côn hoặc ép ống lót tháo vào lỗ ổ, và lực cần cho việc này có thể đáng kể với ổ lớn vì ma sát ở các mặt tiếp xúc [1]. Với ổ đũa tang trống cỡ lớn, NSK ghi thường dùng áp lực dầu để lắp, bằng ống lót cùng đai ốc thuỷ lực hoặc bơm dầu qua lỗ khoan trong ống lót [2]; so sánh riêng loại ổ đó nằm ở ổ đũa tang trống và ổ bi tự lựa.
Ba mẹo sai hay gặp khi đọc mã ổ có chữ K
Mẹo sai 1: "Lỗ côn là để bù lệch trục." Hai chức năng này nằm ở hai chỗ khác nhau trên cùng một ổ. SKF xếp lỗ côn vào mục lắp và tháo, và đo mức độ dôi của nó bằng phần khe hở hướng kính mất đi hoặc lượng dịch dọc trục [1]; còn khả năng nghiêng trục của ổ bi tự lựa đến từ rãnh cầu ở vòng ngoài, xem ổ bi tự lựa và ổ bi đỡ một dãy. Một ổ bi tự lựa bản lỗ trụ vẫn tự lựa như thường.
Mẹo sai 2: "Ổ lỗ côn siết đai ốc là xong, không cần độ dôi." SKF viết thẳng rằng ổ lỗ côn luôn được lắp với độ dôi trên trục, trên ống lót côn hoặc trên ống lót tháo [1]. Đai ốc là công cụ đẩy và hãm, không phải thứ thay cho độ dôi.
Mẹo sai 3: "Thay ổ lỗ côn sang hãng khác, siết đúng mô-men cũ là được." NSK ghi tuy đường kính lỗ, đường kính ngoài và bề rộng của ổ tiêu chuẩn đã được thống nhất, các thông số khác như cỡ và số con lăn có khi khác nhau giữa các hãng; riêng với lỗ côn, khe hở dư sau khi lắp hay lượng dự ứng lực có khi khác nhau ngay cả khi lắp cùng một cách, nên NSK khuyên kiểm lại mô-men và khe hở sau khi lắp [2].
Bảng quyết định: thấy gì tại xưởng thì làm gì
| Đo hoặc thấy tại xưởng | Làm gì | Căn cứ |
|---|---|---|
| Ngõng trục là mặt trụ trơn, không có vai chặn ở vị trí cần đặt ổ | Xét ổ lỗ côn kèm ống lót côn; ống lót côn lắp được lên trục thẳng và không cần thêm chi tiết định vị | [1] |
| Ngõng trục có vai chặn chắc chắn ngay cạnh chỗ đặt ổ | Ống lót tháo dùng được, vì ổ trên ống lót tháo phải tì vào một gờ cố định như vai trục | [1] |
| Xưởng chỉ tiện được ngõng ở mức dung sai thô, không mài | Xét đường ống lót, vì ống lót thích ứng theo đường kính trục nên dung sai trục được nới | [1] |
| Ổ cỡ lớn, ép nguội không nổi vì lực quá lớn | Với lỗ trụ chuyển sang lắp nóng; với lỗ côn cỡ lớn xét bơm dầu áp lực hoặc đai ốc thuỷ lực | [2] |
| Ổ có phớt hoặc nắp chắn, định nung để lắp | Kiểm giới hạn nhiệt trước khi nung; NSK ghi không nung ổ trên 120 °C trong thời gian dài | [2] |
| Chưa có dụng cụ đo khe hở hướng kính, cũng chưa có cách đo lượng dịch dọc trục | Chưa lắp ổ lỗ côn, vì mức độ dôi của kiểu lỗ này chỉ đọc được qua một trong hai phép đo đó | [1] |
| Cần tháo ổ cỡ nhỏ để dùng lại | Lỗ trụ: ép ra bằng máy ép hoặc vam có chấu bám hết mặt bên vòng trong. Lỗ côn trên ống lót côn: chặn vòng trong bằng cữ, nới đai ốc vài vòng rồi gõ ống lót ra | [3] |
| Đổi sang ổ lỗ côn của hãng khác trên cùng gối | Đo lại khe hở và mô-men sau khi lắp thay vì chép lại thông số của hãng cũ | [2] |
Nguồn và giới hạn
Tra ngày 13/09/2026. Mã HTTP đo bằng curl không theo chuyển hướng; câu dẫn đối chiếu trên văn bản tải trực tiếp.
- [1] SKF, SKF bearings and mounted products (catalogue PDF, bản xem trước trên kho tài liệu của SKF): https://cdn.skfmediahub.skf.com/api/public/0901d196807026e8/pdf_preview_medium/0901d196807026e8_pdf_preview_medium.pdf — mục Mounting and dismounting trang 11; chương ổ bi tự lựa trang 91 đến 93 (độ côn 1:12, nhóm khe hở giao hàng, bảng khe hở hướng kính, cảnh báo về phép đo); chương CARB trang 187; mục Adapter and withdrawal sleeves trang 157 và 532 đến 533 (ống lót côn so với ống lót tháo, ngõng h9 và độ trụ IT5/2, lực đẩy, kích thước theo ISO 2982-1:1995).
- [2] NSK Global, Bearing ABCs — 10.1 Mounting: https://www.nsk.com/tools-resources/abc-bearings/mounting/ — lắp ổ lỗ côn lên trục côn và lên trục trụ qua ống lót; lắp nóng ổ lỗ trụ và mức nhiệt 120 °C; áp lực dầu cho ổ cỡ lớn; cảnh báo khi đổi hãng.
- [3] NSK Global, Bearing ABCs — 10.2 Dismounting: https://www.nsk.com/tools-resources/abc-bearings/dismounting/ — tháo vòng trong lỗ trụ bằng máy ép và vam; tháo ổ lỗ côn trên ống lót côn bằng cữ chặn; bơm dầu áp lực cho ổ lớn.
- [4] NSK Global, Bearing ABCs — 7. Fits and Internal Clearance: https://www.nsk.com/tools-resources/abc-bearings/fits-and-internal-clearance/ — khe hở ban đầu, khe hở dư sau khi lắp, khe hở hiệu dụng khi chạy.
- Tiêu chuẩn, chỉ nêu tên và số hiệu: ISO 5753-1:2009 Rolling bearings — Internal clearance — Part 1: Radial internal clearance for radial bearings (catalogue SKF dẫn bản cũ ISO 5753-1991 cho bảng khe hở); ISO 2982-1:2013 Rolling bearings — Accessories — Part 1: Tapered sleeves (catalogue SKF dẫn bản 1995); ISO 15:2017 Rolling bearings — Radial bearings — Boundary dimensions, general plan. Tài liệu trả phí; bài không trích trị số trong đó.
- Cân bằng nhà xuất bản: bốn nguồn trên chỉ thuộc hai nhà sản xuất, ba trong bốn là trang của NSK. Đáng nói hơn: toàn bộ trị số khe hở trong bài dồn về một bảng duy nhất của catalogue SKF. Bài nêu thẳng chỗ lệch này thay vì trình bày như số liệu ngành.
Bảng này không dùng cho:
- Trị số khe hở của loại ổ khác ổ bi tự lựa, hoặc của hãng khác SKF: bảng đã dẫn chỉ phủ một dãy ổ của một hãng.
- Lượng dịch dọc trục cần đẩy theo từng cỡ ổ, và mô-men siết đai ốc ống lót côn: bài không nêu.
- So tuổi thọ, khả năng tải hay tốc độ giữa ổ lỗ côn và ổ lỗ trụ: nguồn đã kiểm không so.
- Ổ trong trục chính máy công cụ, ổ có dự ứng lực đặt trước, hồ sơ theo JIS hay TCVN: chưa đối chiếu.
Không xác định được từ bài này: khe hở dư thực tế của gối đang lắp, vì trị số đó phụ thuộc cỡ ổ, nhóm khe hở và quãng đẩy cụ thể, phải đo tại máy; và mức độ dôi mà một ổ lỗ trụ cụ thể đang chịu, vì bài không dẫn bảng lắp ghép nào.
Cần chính xác hơn: xem cách chọn kiểu lắp theo vòng quay và theo tải ở lắp ghép ổ lăn lên trục và vào gối; dấu hiệu ổ đang chạy sai khe hở ở chẩn đoán vòng bi rung, nóng, kêu lạ.
Câu hỏi thường gặp
Vòng bi lỗ côn là gì? Là ổ lăn có mặt lỗ vòng trong dạng côn thay vì trụ. SKF ghi ổ kiểu này lắp lên ngõng trục côn, hoặc lên ngõng trụ qua ống lót côn, ống lót tháo hay ống lót bậc, và người lắp phải để ý đạt đúng khe hở mong muốn khi lắp.
Ký hiệu K sau số hiệu ổ nghĩa là gì? Trong catalogue SKF, phần ổ đũa xuyến CARB ghi hậu tố K ứng với lỗ côn độ côn 1:12, còn hậu tố K30 ứng với độ côn 1:30 và chỉ có ở ít cỡ. Đây là quy ước ghi trong catalogue của SKF cho dòng ổ đó, không phải quy ước chung cho các hãng.
Ống lót côn vòng bi dùng để làm gì? Theo SKF, ống lót côn và ống lót tháo dùng để giữ ổ lỗ côn trên ngõng trục trụ hoặc trục bậc, giúp việc lắp và tháo dễ hơn và nhiều khi làm gọn thiết kế gối đỡ. Catalogue SKF còn ghi ống lót côn cho phép đặt ổ ở vị trí nào cũng được trên trục thẳng.
Khe hở dư sau khi lắp vòng bi là gì? NSK định nghĩa ba mức: khe hở ban đầu là khe hở trước khi lắp, khe hở dư là khe hở sau khi lắp, và khe hở hiệu dụng là khe hở khi máy chạy. NSK giải thích khe hở giảm khi vòng ổ nở hoặc co do lắp chặt.
Ổ lỗ côn và ổ lỗ trụ, loại nào giao với khe hở rộng hơn? Trong cùng bảng của catalogue SKF cho dãy ổ bi tự lựa cỡ lỗ 50 đến 65 mm, bản lỗ côn nhóm Normal ghi 27 đến 47 µm còn bản lỗ trụ nhóm Normal ghi 16 đến 36 µm. SKF cũng ghi bản lỗ côn thường được giao theo nhóm C3.
Nung ổ để lắp thì được nung tới đâu? NSK ghi không nung ổ trên 120 °C trong thời gian dài, và nhắc rằng ổ còn co lại theo chiều rộng khi nguội nên phải giữ ổ tì vào vai trục, chẳng hạn bằng đai ốc trục. Đây là chỉ dẫn cho lắp nóng ổ lỗ trụ.