Chuyển đến nội dung chính
CƠ KHÍ.NET
Vật liệu & nhiệt luyện

Thấm cacbon và thấm cacbon-nitơ: cùng một lò, khác nhau ở nguyên tố thứ hai

Nguyễn Đỗ Tùng

Biên soạn có hỗ trợ công cụ · nguồn dẫn kèm · cập nhật

Thấm cacbon-nitơ là biến thể của thấm cacbon, không phải một dạng thấm nitơ. Theo Total Materia, nó đưa thêm ammonia vào khí quyển thấm cacbon để nitơ khuếch tán cùng cacbon, chạy ở nhiệt độ thấp hơn và thời gian ngắn hơn, cho lớp thấm nông hơn nhưng độ thấm tôi của lớp cao hơn.

Kết luận trên đúng khi so hai quy trình thể khí trên thép cacbon thấp và thép hợp kim thấp, đúng phạm vi mà [1], [2] và [3] mô tả. Bốn nguồn nêu bốn dải nhiệt độ khác nhau cho thấm cacbon-nitơ: [4] ghi thấp tới 700–900 °C, [3] ghi 760–870 °C trong bảng đặc trưng quy trình khuếch tán, [1] ghi phổ biến ở 870 °C trở xuống, [5] ghi 850 °C. Bài nêu cả bốn kèm tên nguồn, không gộp thành một dải. Nguồn đã kiểm không cho bảng tra thời gian - chiều sâu lớp thấm cho một mác thép cụ thể; [3] chỉ nêu quan hệ chiều sâu lớp xấp xỉ hằng số khuếch tán nhân căn bậc hai thời gian, nên bài không thế số vào.

Bảng đối chiếu thấm cacbon và thấm cacbon-nitơ

Tiêu chíThấm cacbonThấm cacbon-nitơ
Nguyên tố khuếch tán vàoChỉ cacbon; [1] ghi lớp thấm cacbon bình thường không chứa nitơCả cacbon và nitơ cùng lúc; ammonia phân ly ngay trên mặt chi tiết cấp nitơ nguyên sinh [1]
Dải nhiệt độ nguồn nêu850–950 °C [2]; bảng đặc trưng của [3] ghi 815–980 °C cho thể khí; [5] ghi 900–950 °C700–900 °C [4]; 760–870 °C [3]; 870 °C trở xuống [1]; 850 °C [5]
Chiều sâu lớp thấm nguồn nêu75 µm đến 1,5 mm cho thể khí [3]; [5] ghi lớp cứng dày tới 0,25 in (số inch của nguồn)0,075 đến 0,75 mm [1]; [4] ghi cùng khoảng đó và nêu lý do nitơ cản khuếch tán cacbon
Trần chiều sâu[1] ghi không có giới hạn kiểu đó với thấm cacbon[1] ghi về cơ bản giới hạn quanh 0,75 mm trở xuống
Độ cứng lớp thấm theo bảng50–63 HRC, có dấu sao "phải tôi từ nhiệt độ austenit hoá" [3]50–65 HRC, cùng dấu sao [3]
Thấm tôi của lớp[1] ghi lớp thấm cacbon-nitơ có độ thấm tôi tốt hơn lớp chỉ thấm cacbonNitơ hạ tốc độ nguội tới hạn của thép [1]; [4] ghi nitơ làm tạo được mactenxit ở thép cacbon thường và thép hợp kim thấp vốn kém thấm tôi
Biến dạng[5] ghi nhiệt độ thấm cacbon gây ít nhiều biến dạng chi tiết[1] ghi nhờ nhiệt độ thấp hơn hoặc môi trường tôi nhẹ hơn, thấm cacbon-nitơ có thể ít biến dạng hơn — bài giữ đúng mức "có thể" của nguồn
Chịu ramNguồn không nêu số[1] ghi lớp thấm cacbon-nitơ chống mềm khi ram vượt trội so với lớp thấm cacbon; [4] ghi nhiệt độ ram tới 230 °C hay được dùng
Nguyên tố kiểm soát khóCacbon; [2] ghi chiều sâu lớp phụ thuộc thời gian và thế cacbon tại bề mặtNitơ; [1] ghi nitơ khó kiểm soát hơn cacbon, dư nitơ dẫn tới austenit dư nhiều và rỗ xốp lớp thấm
Mác thép nguồn kể tên1008, 1018, 8620 [5]; [2] nêu thép thấm cacbon có nền cacbon khoảng 0,2 %Dòng AISI 1000, 1100, 1200, 1300, 1500, 4000, 4100, 4600, 5100, 6100, 8600, 8700 với cacbon tới khoảng 0,25 % [1]; SAE 1018, 12L14, 1117 [4]

Các nguồn [1]–[5] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Trị số trong bảng là của tài liệu được dẫn, cho đúng quy trình và dải vật liệu mà tài liệu đó nói tới, không phải hằng số cho một mác thép cụ thể.

Vì sao thêm một chất khí lại đổi cả chiều sâu lẫn độ thấm tôi của lớp

Điểm xuất phát của cả hai là như nhau. [2] mô tả thấm cacbon là đưa cacbon vào bề mặt thép cacbon thấp ở nhiệt độ mà austenit hoà tan được nhiều cacbon, rồi tôi để lớp giàu cacbon thành mactenxit chịu mòn và chịu mỏi trên một lõi dẻo. [5] nói cùng một ý bằng lời khác: nhiệt độ thấm nằm trên nhiệt độ tới hạn của thép nên khi tôi, mặt giàu cacbon thành mactenxit còn lõi giữ tổ chức ferit hoặc peclit mềm hơn.

Thấm cacbon-nitơ giữ nguyên khung đó rồi thêm một chất khí. [1] viết thẳng: đây là biến thể của thấm cacbon thể khí chứ không phải một dạng thấm nitơ, và phần biến thể nằm ở chỗ đưa ammonia vào khí quyển thấm cacbon để thêm nitơ vào lớp thấm ngay trong lúc lớp đó đang hình thành. Nitơ nguyên sinh sinh ra do ammonia phân ly ngay trên bề mặt chi tiết, rồi khuếch tán vào thép cùng lúc với cacbon [1]. [4] nhắc lại cùng kết luận và nói thêm vế ngược: nitrocarburizing mới là biến thể của thấm nitơ, không phải của thấm cacbon — đó là cặp khác, xem thấm nitơ khí và thấm nitơ plasma.

Từ một chất khí thêm vào, hai hệ quả đi ngược chiều nhau.

Lớp mỏng đi. [4] nêu cơ chế: nitơ cản khuếch tán cacbon, nên tổ hợp các yếu tố cho lớp thấm nông hơn mức thường thấy ở chi tiết thấm cacbon, khoảng 0,075 đến 0,75 mm. Cộng thêm việc quy trình chạy ở nhiệt độ thấp hơn và thời gian ngắn hơn [1], chiều sâu lớp bị chặn ở mức [1] gọi là giới hạn thực tế quanh 0,75 mm.

Lớp dễ tôi hơn. [1] ghi nitơ hấp thụ trong lúc thấm hạ tốc độ nguội tới hạn của thép, nên độ thấm tôi của lớp lớn hơn hẳn so với chính mác thép đó chỉ thấm cacbon. Hệ quả thực dụng được [1] nêu bằng ví dụ mác thép: nhờ hiệu ứng thấm tôi của nitơ, thép như 1010, 1020 và 1113 tôi được trong dầu mà vẫn ra tổ chức mactenxit ở lớp thấm. [4] mô tả cùng cơ chế theo hướng khác: nitơ làm tạo được mactenxit ở thép cacbon thường và thép hợp kim thấp vốn có độ thấm tôi thấp, và kể tên SAE 1018, 12L14, 1117. Khái niệm độ thấm tôi và ảnh hưởng của tiết diện nằm ở bài độ thấm tôi: tiết diện và tốc độ nguội tới hạn.

Cách hiểu của bài: nitơ vừa là thứ chặn đường cacbon đi sâu, vừa là thứ giúp lớp mỏng ấy chuyển pha dễ hơn khi tôi. Hai vai này của cùng một nguyên tố giải thích vì sao không đổi được lớp nông lấy lớp dày chỉ bằng cách kéo dài mẻ.

Vì sao nhiệt độ thấm cacbon-nitơ bị kẹp từ hai phía

Trần trên đến từ hoá học của ammonia. [4] ghi dải nhiệt độ của thấm cacbon-nitơ buộc phải thấp hơn vì ammonia phân huỷ nhiệt cực nhanh, làm nguồn nitơ khan hiếm ở nhiệt độ austenit hoá cao. [1] diễn đạt cùng ý theo hướng định lượng hơn: nhiệt độ thấm cacbon-nitơ càng cao thì việc thêm ammonia càng kém hiệu quả với vai trò nguồn nitơ, vì tốc độ tự phân huỷ của ammonia thành nitơ và hydro phân tử tăng theo nhiệt độ.

Sàn dưới đến từ tổ chức và an toàn. [4] ghi ở nhiệt độ thấp hơn thì tổ chức tạo ra giòn hơn, và chạy lò dưới 760 °C là một mối lo an toàn.

Thấm cacbon không bị kẹp như vậy, nên [2] ghi nhiệt độ có thể đẩy lên cao hơn dải 850–950 °C để rút ngắn chu trình hoặc tạo lớp giàu cacbon sâu hơn — nhưng đi kèm điều kiện của chính [2]: nhiệt độ cao vừa tăng tốc độ khuếch tán cacbon vừa tăng xu hướng lớn hạt austenit, nên phải cân nhắc để khỏi hỏng cơ tính lõi và ổn định kích thước.

Kiểm soát trong mẻ cũng khác nhau. [2] ghi chiều sâu lớp thấm cacbon phụ thuộc hai thứ: thời gian thấm và thế cacbon sẵn có tại bề mặt. Với thấm cacbon-nitơ, [1] gọi tên một vấn đề nền tảng: tốc độ nhận nitơ phụ thuộc lượng ammonia tự do trong khí quyển lò chứ không phải phần trăm ammonia trong khí cấp vào. [4] mô tả một cách làm quen thuộc để đối phó: chỉ đưa ammonia vào phần cuối chu trình, thường là 0,5 đến 1 giờ cuối trước khi tôi.

Bốn mẹo sai hay gặp khi đặt hàng nhiệt luyện

Mẹo sai 1: "Thấm cacbon-nitơ là một kiểu thấm nitơ, làm ở nhiệt độ thấp nên không biến dạng." [1] và [4] đều viết thẳng đó là biến thể của thấm cacbon, không phải một dạng thấm nitơ. Hệ quả là lớp thấm vẫn cần tôi: bảng đặc trưng quy trình khuếch tán của [3] đánh dấu sao cả hàng thấm cacbon lẫn hàng thấm cacbon-nitơ với chú thích phải tôi từ nhiệt độ austenit hoá.

Mẹo sai 2: "Thêm nitơ thì lớp thấm dày hơn vì có hai nguyên tố cùng vào." [4] ghi ngược lại và nêu cơ chế: nitơ cản khuếch tán cacbon, nên lớp nông hơn mức thường thấy ở chi tiết thấm cacbon, khoảng 0,075 đến 0,75 mm. [1] ghi thấm cacbon-nitơ về cơ bản bị giới hạn ở chiều sâu quanh 0,75 mm trở xuống, còn thấm cacbon không có giới hạn kiểu đó.

Mẹo sai 3: "Muốn nhanh thì nâng nhiệt độ thấm cacbon-nitơ lên." [1] ghi nhiệt độ càng cao thì thêm ammonia càng kém hiệu quả với vai trò nguồn nitơ, vì ammonia tự phân huỷ nhanh hơn. [4] nêu cùng lý do và cho biết chính hoá học này là thứ ép dải nhiệt độ xuống thấp.

Mẹo sai 4: "Cứ mở ammonia thật nhiều cho lớp thật cứng." [1] dẫn một thí nghiệm: khi khí quyển giàu ammonia ở mức 11 % NH₃, lượng nitơ trong lớp thấm cao, austenit dư sau khi tôi đủ nhiều để hạ độ cứng xuống 48 HRC ở độ sâu 0,025 mm dưới bề mặt; hạ lưu lượng ammonia hoặc thêm 15 phút khuếch tán cuối mẻ thì độ cứng đạt hoặc vượt mức quy định 55 HRC. [4] đặt mốc khác cho cùng rủi ro: khuyến nghị giới hạn hàm lượng nitơ bề mặt ở mức 0,40 % tối đa, và ghi hệ quả của nitơ cao là sinh lỗ rỗng hoặc rỗ xốp. Đây là số của một thí nghiệm và một khuyến nghị, không phải ngưỡng chung cho mọi lò.

Bảng quyết định: thấy gì tại xưởng thì hỏi lại điều gì

Thấy hoặc đo được tại xưởngLàm gìCăn cứ
Bản vẽ ghi chiều sâu lớp thấm lớn hơn 0,75 mmHỏi lại nơi thiết kế xem có buộc phải là thấm cacbon-nitơ không; nếu buộc thì bàn phương án ghép hai quy trình[1] thấm cacbon-nitơ về cơ bản giới hạn quanh 0,75 mm, thấm cacbon không bị giới hạn đó
Bản vẽ chỉ ghi "thấm cacbon", không ghi chiều sâu lớp là toàn phần hay hữu hiệuTrả lại bản vẽ xin ghi rõ loại chiều sâu trước khi đặt hàng[3] chiều sâu hữu hiệu vào khoảng hai phần ba đến ba phần tư chiều sâu toàn phần
Phôi là thép có cacbon nền cao hơn nhóm thép thấmHỏi lại nơi thiết kế; chưa đưa vào mẻ thấm cacbon[5] với hợp kim cacbon trên 0,3 % khối lượng, thấm cacbon tác dụng ít hoặc có hại vì nguy cơ tôi thấu
Chi tiết mỏng, dung sai chặt, yêu cầu ít sửa nguội sau nhiệt luyệnĐưa lên bàn phương án thấm cacbon-nitơ; vẫn phải tính lượng dư vì lớp thấm nào cũng cần tôi[1] nhiệt độ thấp hơn hoặc tôi nhẹ hơn có thể cho ít biến dạng hơn; [3] mọi quy trình thấm cacbon đều cần tôi từ nhiệt độ austenit hoá
Đo độ cứng bề mặt thấy tụt ngay sát mặt rồi mới lênNghi austenit dư; hỏi lò về lượng ammonia và đoạn khuếch tán cuối mẻ[1] thí nghiệm 11 % NH₃ cho 48 HRC ở 0,025 mm dưới bề mặt, hạ ammonia hoặc thêm 15 phút khuếch tán thì đạt 55 HRC
Soi tổ chức thấy lớp trắng rỗ xốp ở mặtHỏi lại về hàm lượng nitơ bề mặt và thời gian mẻ[4] giới hạn khuyến nghị 0,40 % nitơ bề mặt; [1] mẻ quá dài dẫn tới austenit dư nhiều và rỗ xốp lớp thấm
Vật liệu là thép có nhiều nguyên tố tạo nitrit mạnh như nhôm hay titanHỏi lò trước khi chốt chiều sâu lớp[1] chiều sâu lớp đạt được thấp hơn ở thép chứa nhiều nguyên tố tạo nitrit mạnh
Chi tiết sau khi thấm còn phải ram hoặc khử ứng suất ở nhiệt độ cao hơn thường lệNói rõ nhiệt độ đó với nơi nhiệt luyện trước khi chọn quy trình[1] lớp thấm cacbon-nitơ chống mềm khi ram vượt trội; [4] nhiệt độ ram tới 230 °C hay được dùng cho chi tiết thấm cacbon-nitơ
Ranh giới lớp và lõi khó phân biệt khi soi mẫuGhi lại nhiệt độ mẻ và mác thép trước khi tranh luận số đo[1] khó phân biệt lớp với lõi khi nhiệt độ cao, lớp sâu và thép cacbon trung bình hoặc cao

Nguồn và giới hạn

Tra ngày 12/09/2026. Mỗi câu dẫn đã được đối chiếu nguyên văn trên bản tải trực tiếp từ trang nguồn.

  • [1] Total Materia, Carbonitriding: https://www.totalmateria.com/en-us/articles/carbonitriding/ — định nghĩa thấm cacbon-nitơ là biến thể của thấm cacbon thể khí; vai trò ammonia; chiều sâu lớp và trần chiều sâu; độ thấm tôi của lớp; ví dụ mác thép tôi dầu; rủi ro austenit dư và rỗ xốp; chống mềm khi ram; cách ghép hai quy trình.
  • [2] Total Materia, Carburizing: https://www.totalmateria.com/en-us/articles/carburizing/ — nguyên lý thấm cacbon; dải nhiệt độ 850–950 °C; cacbon nền và cacbon lớp thấm; hai yếu tố quyết định chiều sâu lớp; hệ quả của nhiệt độ cao lên hạt austenit.
  • [3] Total Materia, Surface Hardening of Steels: https://www.totalmateria.com/en-us/articles/surface-hardening-of-steels/ — bảng đặc trưng các quy trình khuếch tán (nhiệt độ, chiều sâu, độ cứng, nhóm vật liệu nền) cho hàng thấm cacbon thể khí và hàng thấm cacbon-nitơ thể khí; quan hệ chiều sâu lớp với căn bậc hai thời gian; tỉ lệ chiều sâu hữu hiệu trên chiều sâu toàn phần.
  • [4] Daniel H. Herring (The Herring Group), Comparing and Contrasting Carbonitriding and Nitrocarburizing (bản PDF đăng trên trang SECO/WARWICK, bài gốc trên Industrial Heating số 7/2016): https://www.secowarwick.com/wp-content/uploads/2017/03/METAL-MINUTES-Industrial-Heating-COMPARING-AND-CONTRASTING.pdf — cơ chế nitơ cản khuếch tán cacbon; lý do dải nhiệt độ bị kẹp hai phía; giới hạn nitơ bề mặt; nhiệt độ ram; cách đưa ammonia ở cuối chu trình; phân biệt với nitrocarburizing.
  • [5] Advanced Heat Treat Corp, Case Hardening Heat Treatments: https://www.ahtcorp.com/articles/blog/case-hardening-heat-treatments/ — dải nhiệt độ thấm cacbon 900–950 °C; tổ chức lớp và lõi sau khi tôi; danh sách mác thép thấm cacbon; ngưỡng cacbon nền 0,3 % khối lượng; ghi nhận thấm cacbon gây biến dạng.
  • Tiêu chuẩn, chỉ dẫn tên và số hiệu: ISO 4885 Ferrous materials — Heat treatments — Vocabulary; ISO 18203 Steel — Determination of the thickness of surface-hardened layers (thay cho ISO 2639 Steels — Determination and verification of the depth of carburized and hardened cases đã rút). Tên đối chiếu trên trang mục lục của evs.ee vì iso.org chặn truy cập tự động. Tài liệu trả phí; bài không trích trị số.

Bảng này không dùng cho:

  • Chọn thời gian mẻ để đạt một chiều sâu lớp cho trước: bài không nêu.
  • Chọn thế cacbon, lưu lượng ammonia hay chương trình lò cho một mác thép: bài không nêu.
  • So thấm cacbon thể khí với thấm cacbon chân không, hay thấm cacbon thể lỏng: bài không đối chiếu, xem cặp riêng.
  • So thấm cacbon-nitơ với thấm nitơ hay nitrocarburizing: bài chỉ nhắc chỗ phân loại, không đối chiếu số.
  • Hồ sơ nghiệm thu theo TCVN hay JIS: bài chưa đối chiếu.

Không xác định được từ bài này: thời gian mẻ cần thiết cho một chiều sâu lớp cụ thể, vì [3] chỉ cho quan hệ chiều sâu lớp xấp xỉ hằng số khuếch tán nhân căn bậc hai thời gian và nói hằng số đó phụ thuộc nhiệt độ, thành phần thép và gradient nồng độ; độ cứng lớp đạt được của một mác thép ở một chế độ cụ thể; lượng ammonia hợp lý cho một lò cụ thể, vì [1] nói tốc độ nhận nitơ phụ thuộc ammonia tự do trong lò chứ không phải phần trăm ở khí cấp vào, và nói chưa có cảm biến theo dõi lượng ammonia tự do; và vì sao bốn nguồn nêu bốn dải nhiệt độ khác nhau cho cùng một quy trình.

Cần chính xác hơn: đọc chuỗi tôi - ram - thấm cacbon ở bài nguyên lý tôi, ram và thấm cacbon; phân biệt ram với hoá già ở ram thép và hoá già hợp kim nhôm; môi trường thấm cacbon khác nhau ở thấm cacbon khí và thấm cacbon chân không; lượng dư để lại cho mài sau nhiệt luyện ở biến dạng sau nhiệt luyện và lượng dư mài.

Câu hỏi thường gặp

Thấm cacbon-nitơ có phải là thấm nitơ không? Không. [1] ghi đó là biến thể của thấm cacbon thể khí chứ không phải một dạng thấm nitơ, và [4] viết đúng câu tương tự. [4] còn nêu vế ngược: nitrocarburizing mới là biến thể của thấm nitơ.

Lớp thấm hai quy trình khác nhau ở thành phần thế nào? [1] ghi lớp thấm cacbon bình thường không chứa nitơ, lớp thấm nitơ chứa chủ yếu là nitơ, còn lớp thấm cacbon-nitơ chứa cả hai.

Chiều sâu lớp thấm cacbon-nitơ đạt tới đâu? [1] ghi thường từ 0,075 đến 0,75 mm và về cơ bản bị giới hạn quanh 0,75 mm trở xuống; bảng của [3] ghi 75 µm đến 0,75 mm cho thể khí. Muốn sâu hơn, [1] mô tả cách ghép: thấm cacbon ở 900–955 °C cho chiều sâu toàn phần tới 2,5 mm, rồi thấm cacbon-nitơ 2 đến 6 giờ trong khoảng 815–900 °C để thêm phần lớp thấm cacbon-nitơ.

Vì sao thấm cacbon-nitơ không chạy nóng như thấm cacbon? [4] ghi ammonia phân huỷ nhiệt cực nhanh nên nguồn nitơ khan hiếm ở nhiệt độ austenit hoá cao; [1] ghi nhiệt độ càng cao thì thêm ammonia càng kém hiệu quả. Phía dưới, [4] ghi tổ chức giòn hơn ở nhiệt độ thấp và chạy lò dưới 760 °C là mối lo an toàn.

Chi tiết thấm cacbon-nitơ ram được ở nhiệt độ cao hơn không? [1] ghi lớp thấm cacbon-nitơ chống mềm khi ram vượt trội so với lớp thấm cacbon, [4] ghi nhiệt độ ram tới 230 °C hay được dùng cho chi tiết thấm cacbon-nitơ. Bài không suy ra mốc cho mác thép cụ thể.

Quy trình nào ít biến dạng hơn? [5] ghi nhiệt độ thấm cacbon gây ít nhiều biến dạng chi tiết; [1] ghi nhờ nhiệt độ thấp hơn hoặc môi trường tôi nhẹ hơn, thấm cacbon-nitơ có thể ít biến dạng hơn và đôi lúc bỏ được bước nắn hoặc mài tinh cuối. Nguồn dùng từ "có thể", bài giữ đúng mức đó, và [3] nhắc rằng quy trình thấm cacbon nào cũng cần tôi nên kiểm soát biến dạng vẫn là việc phải tính từ khâu thiết kế.

Thép nào hay đem thấm cacbon-nitơ? [1] kể các dòng AISI 1000, 1100, 1200, 1300, 1500, 4000, 4100, 4600, 5100, 6100, 8600 và 8700 với hàm lượng cacbon tới khoảng 0,25 %; [4] kể SAE 1018, 12L14 và 1117. Danh sách của hai nguồn là ví dụ, không phải điều kiện cho mọi đơn hàng.

Đọc tiếp

Thuộc chuyên trang: Vật liệu & nhiệt luyệnNhiệt luyện