Theo Ensinger, PEEK cho độ cứng vững, chịu nhiệt và chống dão cao, dùng được liên tục tới 250–260 °C; PTFE cho hệ số ma sát rất thấp nhưng sức bền và độ cứng vững thấp. Hai vật liệu không thay nhau: lấy PEEK khi chi tiết chịu tải và chịu nhiệt, lấy PTFE khi chi tiết cần trượt êm.
Kết luận trên đúng khi so hai vật liệu nguyên chất, chưa độn, dùng làm chi tiết máy như bạc trượt, ổ trượt, bánh răng và vòng làm kín. Phạm vi nguồn: hai trang vật liệu của cùng một hãng vật liệu kỹ thuật [1][2], một trang cùng hãng về ma sát và mòn [3], cùng ba bài truy cập mở trên PMC [4][5][6]. Bài không lập bảng hệ số ma sát vì [3] viết trị số tra bảng luôn là gần đúng. Nguồn đã kiểm cũng không cho giới hạn tải nhân tốc độ trượt của hai vật liệu, và nêu nhiệt độ chuyển pha của PEEK theo ba cách hơi khác nhau — bài ghi cả ba kèm tên nguồn.
Bảng đối chiếu PEEK và PTFE cho chi tiết máy
| Tiêu chí | PEEK | PTFE |
|---|---|---|
| Sức bền, độ cứng vững | [1] xếp vào nhóm cơ tính tốt nhất trong các nhựa kỹ thuật: bền kéo từ 90 MPa trở lên, mô đun đàn hồi cao, độ cứng cao | [2] ghi sức bền cơ học thấp; mục đặc tính ghi sức bền và độ cứng vững tương đối thấp |
| Chống dão | [1] ghi chống dão và chống mỏi tốt, chịu được uốn và nén | Nguồn đã kiểm không nêu chống dão |
| Hệ số ma sát khi dùng một mình | [5] ghi tương đối cao, tới khoảng 0,7 trong một số điều kiện, nên hạn chế khi dùng riêng cho bài toán ma sát | [2] ghi hệ số ma sát rất thấp; [4] ghi hệ số ma sát thấp và tự bôi trơn tốt |
| Cơ chế phân tử đằng sau ma sát | [5] ghi vòng aryl trong mạch làm vật liệu cứng vững, còn nhóm ete cho mạch độ mềm dẻo; [4] ghi PEEK có cấu trúc phân tử mạnh với nhóm chức làm tăng lực hút giữa các phân tử | [4] ghi chuỗi dài (CF₂-CF₂)ₙ có sức bền cắt thấp nên hệ số ma sát khi trượt thấp |
| Chịu mòn khi chưa độn | [5] ghi PEEK là lựa chọn đáng chú ý cho việc đòi chống xước và chống mòn trong điều kiện khắt khe | [4] ghi tốc độ mòn cao và khả năng mang tải thấp; [6] ghi chính chịu mòn kém giới hạn phạm vi dùng ở tải cao và tốc độ trượt cao |
| Nhiệt độ dùng liên tục | [1] ghi 250–260 °C | [2] ghi dải −200 đến 260 °C, ngắn hạn tới 300 °C; [4] ghi giữ được cơ tính trong dải −260 đến +260 °C |
| Nhiệt độ ngắn hạn | [1] ghi 300 °C | [2] ghi ngắn hạn tới 300 °C |
| Chuyển thuỷ tinh và nóng chảy | [1] ghi chuyển thuỷ tinh 143 °C, nóng chảy khoảng 341 °C ở phần mở đầu và 343 °C ở mục liệt kê; [5] ghi khoảng 150 °C và khoảng 340 °C | [4] ghi nóng chảy tinh thể khoảng 327–342 °C |
| Giãn nở nhiệt và ổn định kích thước | [1] ghi hệ số giãn nở dài thấp, giữ được kích thước ổn định tới 150 °C, gần điểm chuyển thuỷ tinh | [2] ghi hệ số giãn nở nhiệt cao |
| Hút ẩm | [1] ghi hút nước thấp, 0,03 %, nên ít đổi kích thước do trương ngay cả khi độ ẩm cao | [4] ghi hút nước rất thấp nên ổn định kích thước nổi trội |
| Nước nóng, hơi nước | [1] ghi chịu nước biển và hơi nước, không thuỷ phân cả trong môi trường nhiệt độ cao và độ ẩm cao | Nguồn đã kiểm không nêu riêng |
| Chịu hoá chất | [1] ghi chịu tốt nhiều dung môi hữu cơ, dầu, axit và kiềm yếu | [2] ghi chống hoá chất và chống ăn mòn rất cao |
| Chi tiết mà nguồn kể tên | Bánh răng, ổ lăn, ổ trượt [1] | Con lăn, vòng làm kín, gioăng; bạc và ổ trượt làm việc dưới tác động hoá chất mạnh [2] |
| Hướng cải thiện mà nguồn nêu | [5] độn hạt PTFE để tạo màng trượt và màng chuyển tiếp | [2] gia cố bằng sợi thuỷ tinh, cacbon, đồng thau hoặc polyimit; [4] và [6] độn PEEK và các hạt khác |
Các nguồn [1]–[6] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Trị số trong bảng là của tài liệu được dẫn, trong đúng điều kiện mà tài liệu đó mô tả; bài không quy đổi sang điều kiện làm việc khác và không lấy trung bình các số lệch nhau.
Vì sao vật liệu cứng vững hơn lại có hệ số ma sát cao hơn
Đây là chỗ đảo ngược trực giác, và cũng là chỗ quyết định cách chọn.
[4] mô tả PTFE bằng một câu gọn: chuỗi dài (CF₂-CF₂)ₙ trong PTFE có sức bền cắt thấp, nên khi trượt thì hệ số ma sát thấp. Nghĩa là lớp mặt của PTFE dễ bị cắt trượt đi. Chính cái dễ cắt ấy vừa cho ma sát thấp vừa là lý do [4] ghi PTFE có tốc độ mòn cao và khả năng mang tải thấp.
Phía PEEK ngược lại. [5] viết vòng aryl trong mạch phân tử góp phần làm vật liệu cứng vững, còn nhóm ete cho mạch polyme độ mềm dẻo chung; [4] ghi PEEK có cấu trúc phân tử mạnh với các nhóm chức làm tăng lực hút giữa các phân tử. Mạch khó trượt lên nhau thì vật liệu chịu tải tốt hơn, và đó là điều [1] ghi nhận khi xếp PEEK vào nhóm có cơ tính tốt nhất trong các nhựa kỹ thuật: bền kéo từ 90 MPa trở lên, mô đun đàn hồi cao, độ cứng cao, chịu va đập và chống dão.
Cái giá của việc đó nằm ở ma sát. [5] viết PEEK dùng một mình có khả năng ứng dụng hạn chế trong bài toán ma sát học, vì hệ số ma sát của nó tương đối cao, tới khoảng 0,7 trong một số điều kiện. Con số đó gắn với điều kiện mà bài ấy dẫn, không phải mức chung cho mọi cặp trượt.
Và hệ số ma sát cao kéo theo một chuỗi. [5] viết hệ số ma sát cao làm nhiệt độ vùng gần tiếp xúc trên cặp ma sát tăng lên, hạ độ cứng cục bộ của polyme; điều đó gây biến dạng, làm tăng diện tích tiếp xúc và do đó tăng lực ma sát, dẫn tới mất ổn định về tính năng. [1] nói cùng chuyện từ phía thiết kế ổ: để tránh quá tải nhiệt cho ổ, nhiệt ma sát sinh ra cần được thoát khỏi mặt trượt càng nhanh càng tốt, và dẫn nhiệt của chi tiết càng tốt thì nhiệt thoát càng nhanh, giảm được quá nhiệt.
Cách hiểu của bài: hai vật liệu này nằm ở hai đầu của một sự đánh đổi. Một bên dễ cắt trượt nên ma sát thấp và mòn nhanh; bên kia khó cắt trượt nên chịu tải tốt và sinh nhiệt ma sát nhiều hơn. Người thiết kế chọn đầu nào là chọn theo việc chi tiết của mình chịu tải hay chịu trượt nhiều hơn.
Vì sao ngành công nghiệp hay ghép hai vật liệu lại
Nếu một vật liệu hơn hẳn thì đã không có chuyện này. Thực tế các nguồn đã kiểm mô tả hai chiều ghép ngược nhau.
Chiều thứ nhất là độn PTFE vào PEEK. [5] viết các hướng gần đây nhắm vào việc dùng PEEK kết hợp với vật liệu tự bôi trơn để đạt tính năng ma sát học dùng được; một ví dụ là dùng hạt PTFE, cho phép hình thành lớp chuyển tiếp trong tiếp xúc của cặp ma sát, giảm ứng suất cắt và nhờ đó kiểm soát được nhiệt sinh ra do ma sát. Cùng bài viết các hạt này giúp tạo màng trượt trên bề mặt polyme và hỗ trợ hình thành màng chuyển tiếp mỏng, bền trên bề mặt đối tiếp — cả hai màng đều then chốt để ổn định ma sát và mòn.
Chiều thứ hai là độn PEEK vào PTFE. [4] viết gia cường bằng polyme làm tăng chịu mòn, sức bền cơ học và độ bền lâu của PTFE, và xếp PEEK vào nhóm chất độn gốc polyme đáng kể mà giới nghiên cứu đã khảo sát. [6] mô tả cơ chế: mạch phân tử PEEK có thể hấp phụ các phân tử nền PTFE, còn pha TiC và sợi cacbon làm tăng độ cứng của nền PTFE và đỡ tải tác dụng. [6] cũng nói rõ vì sao phải làm vậy: chịu mòn kém của PTFE giới hạn phạm vi ứng dụng của nó ở những chỗ tải cao, tốc độ trượt cao và dải nhiệt độ rộng.
Kết luận thực nghiệm của [4] đáng nhớ khi thiết kế: thử trên bi silic nitrua, nhóm tác giả kết luận PTFE nguyên chất không phù hợp cho ổ bi, còn PTFE độn PEEK có thể dùng được cho ứng dụng tải thấp và tốc độ quay thấp. Đây là kết luận cho một bố trí thí nghiệm cụ thể, không phải luật cho mọi loại ổ. Chỗ PTFE đứng cạnh một nhựa dai và chịu va đập thì ở bài nhựa PTFE và UHMW-PE làm chi tiết máy.
Cách hiểu của bài: khi đọc một báo cáo thử nghiệm về "PEEK" hay "PTFE", câu hỏi đầu tiên là vật liệu đó nguyên chất hay đã độn, và độn cái gì. Hai chiều ghép ở trên cho thấy cùng một tên gọi có thể ứng với hai vật liệu khác hẳn nhau về ứng xử trượt.
Nhiệt độ, hút ẩm và ổn định kích thước
Nhiệt độ làm việc. [1] ghi PEEK dùng được tới 250–260 °C, chịu nhiệt ngắn hạn 300 °C, và ghi thêm rằng ngay cả khi dùng ở 260 °C trong 5000 giờ thì sức bền gần như vẫn bằng trạng thái ban đầu. [2] ghi PTFE có dải −200 đến 260 °C, ngắn hạn tới 300 °C, còn [4] ghi PTFE giữ được cơ tính trong dải −260 đến +260 °C. Hai vế gặp nhau ở mốc trên; khác biệt nằm ở chỗ [4] cho PTFE một dải lạnh sâu mà nguồn đã kiểm không nêu cho PEEK.
Điểm chuyển pha. Ba cách ghi trong nguồn lệch nhau nên bài nêu cả ba. [1] ghi PEEK có điểm chuyển thuỷ tinh 143 °C và nóng chảy khoảng 341 °C ở phần mở đầu, nhưng mục liệt kê đặc tính của chính trang đó ghi 343 °C; [5] ghi nhiệt độ chuyển thuỷ tinh khoảng 150 °C và nhiệt độ nóng chảy khoảng 340 °C. Phía PTFE, [4] ghi nóng chảy tinh thể khoảng 327–342 °C. Bài không phân xử và không lấy trung bình.
Ổn định kích thước. Đây là lợi thế rõ của PEEK trong chi tiết lắp có khe hở. [1] ghi hệ số giãn nở dài thấp và giữ được kích thước ổn định tới 150 °C, gần điểm chuyển thuỷ tinh; cũng ghi PEEK chịu được tải lớn và giữ ổn định kích thước trong thời gian dài nhờ độ cứng vững cao và chống dão. Ngược lại [2] xếp hệ số giãn nở nhiệt cao vào nhóm đặc tính của PTFE. Với bạc trượt, đặc tính này vào thẳng bài toán khe hở nóng.
Hút ẩm và hơi nước. [1] ghi PEEK hút nước thấp, 0,03 %, nên ít đổi kích thước do trương ngay cả khi độ ẩm cao, và ghi PEEK chịu nước biển cùng hơi nước, không thuỷ phân cả trong môi trường nhiệt độ cao độ ẩm cao. [4] ghi PTFE hút nước rất thấp nên ổn định kích thước nổi trội. Ở điểm này hai vật liệu cùng một phía, và cùng khác nhóm polyamit — chỗ đó là bài riêng: nhựa POM và nhựa PA cho chi tiết máy.
Một hệ quả công nghệ. [2] ghi sức căng bề mặt của PTFE cực thấp, gần như không vật liệu nào dính vào, nên khó dán và khó hàn. Với chi tiết máy, điều đó đẩy phương án ghép về phía kẹp cơ khí hoặc gia công liền khối. Việc cắt gọt nhóm nhựa này nằm ở bài gia công nhựa kỹ thuật POM và PTFE.
Bốn mẹo sai hay gặp khi chọn giữa hai vật liệu
Mẹo sai 1: "PEEK là nhựa cao cấp nên hơn PTFE ở mọi mặt, kể cả ma sát." [5] bác thẳng: dùng một mình, PEEK có khả năng ứng dụng hạn chế trong bài toán ma sát học vì hệ số ma sát tương đối cao, tới khoảng 0,7 trong một số điều kiện. Chính vì thế cùng bài mô tả hướng độn hạt PTFE vào để tạo lớp chuyển tiếp và kiểm soát nhiệt ma sát.
Mẹo sai 2: "Ma sát thấp là chọn được rồi." [4] ghi PTFE có hệ số ma sát thấp và tự bôi trơn tốt, nhưng cũng ghi PTFE có tốc độ mòn cao và khả năng mang tải thấp, và kết luận PTFE nguyên chất không phù hợp cho ổ bi trong thí nghiệm của nhóm tác giả. [6] nói cùng ý: chịu mòn kém giới hạn phạm vi dùng của PTFE ở tải cao và tốc độ trượt cao.
Mẹo sai 3: "Tra bảng hệ số ma sát rồi chốt vật liệu." [3] viết trị số hệ số ma sát trong bảng luôn là gần đúng, vì hệ số này phụ thuộc cặp vật liệu, bề mặt, bôi trơn, nhiệt độ, độ ẩm, mòn và lực pháp tuyến; ít nhất phải kèm thông số hệ của phép thử mô hình, còn kết quả chính xác nhất đến từ phép thử trong điều kiện thật. [1] nói cùng ý ở phía mình: ứng xử trượt phụ thuộc toàn bộ hệ trượt và các thông số như vật liệu đối tiếp, tải, tốc độ trượt, độ nhám bề mặt, nhiệt độ.
Mẹo sai 4: "Chi tiết nhựa chạy khô thì khỏi lo nhiệt." [1] ghi để tránh quá tải nhiệt cho ổ thì nhiệt ma sát phải được thoát khỏi mặt trượt càng nhanh càng tốt, và dẫn nhiệt càng tốt thì nhiệt thoát càng nhanh. [5] mô tả chuỗi hỏng khi không thoát kịp: nhiệt vùng tiếp xúc tăng, độ cứng cục bộ của polyme giảm, chi tiết biến dạng, diện tích tiếp xúc tăng, lực ma sát tăng theo và tính năng mất ổn định.
Bảng quyết định: thấy gì tại xưởng thì làm gì
| Thấy hoặc đo được | Làm gì | Căn cứ |
|---|---|---|
| Bạc nhựa mòn nhanh, mặt trượt bị bóc thành vảy mỏng | Xem lại tải tiếp xúc và phương án độn trước khi đổi hẳn vật liệu | [4] PTFE có tốc độ mòn cao và khả năng mang tải thấp; độn cải thiện được nhưng hiệu quả phụ thuộc loại và lượng chất độn |
| Chi tiết nhựa bị lún, biến dạng dần dưới tải giữ lâu | Đưa PEEK lên bàn so sánh | [1] PEEK chống dão, chịu uốn và nén, giữ ổn định kích thước lâu dài nhờ độ cứng vững cao |
| Cụm làm việc trong hơi nước hoặc nước nóng | Đưa PEEK lên bàn so sánh và hỏi hồ sơ vật liệu của lô | [1] PEEK chịu nước biển và hơi nước, không thuỷ phân trong môi trường nhiệt độ cao độ ẩm cao |
| Chi tiết trượt không bôi trơn, cần bề mặt sạch, không nhiễm bẩn | Hỏi phương án PEEK không độn | [1] PEEK không độn là vật liệu cân bằng nhất trong môi trường nhiệt độ cao, nơi cần trượt không bôi trơn và không nhiễm bẩn |
| Mặt trượt nóng lên rõ sau vài giờ chạy, chi tiết đổi kích thước | Kiểm đường thoát nhiệt của cụm trước khi đổi vật liệu | [1] phải thoát nhiệt ma sát khỏi mặt trượt càng nhanh càng tốt; [5] nhiệt vùng tiếp xúc tăng thì độ cứng cục bộ giảm và tính năng mất ổn định |
| Chi tiết cần trượt êm, tải nhẹ, môi trường hoá chất mạnh | Đưa PTFE lên bàn so sánh | [2] nhóm ứng dụng trượt dưới tác động hoá chất mạnh gồm bạc và ổ trượt PTFE |
| Đang định dùng nhựa trượt cho ổ bi | Hỏi lại thiết kế; không suy từ ứng dụng bạc trượt sang ổ bi | [4] PTFE nguyên chất không phù hợp cho ổ bi trong thí nghiệm với bi silic nitrua |
| Bản vẽ chỉ ghi tên vật liệu, không ghi đã độn hay chưa | Trả lại bản vẽ xin ghi rõ vật liệu và hồ sơ chất độn | [4] hiệu quả của compozit phụ thuộc loại và lượng chất độn; [5] và [6] mô tả hai chiều độn ngược nhau |
| Chi tiết lắp khe hở nhỏ, môi trường thay đổi nhiệt độ nhiều | Tính lại khe hở nóng theo hồ sơ vật liệu của lô | [2] PTFE có hệ số giãn nở nhiệt cao; [1] PEEK có hệ số giãn nở dài thấp |
| Chi tiết phải dán hoặc hàn vào cụm | Đổi sang kẹp cơ khí hoặc gia công liền khối | [2] sức căng bề mặt của PTFE cực thấp, khó dán và khó hàn |
| Mòn tăng bất thường sau khi đổi vật liệu đối tiếp hoặc đổi độ nhám | Ghi lại cặp ma sát và độ nhám trước khi đổi vật liệu nhựa | [3] mòn phụ thuộc độ cứng và tình trạng bề mặt; [1] ứng xử trượt phụ thuộc toàn hệ trượt |
Nguồn và giới hạn
Tra ngày 12/09/2026. Mỗi câu dẫn đã được đối chiếu nguyên văn trên bản tải trực tiếp từ trang nguồn.
- [1] Ensinger, PEEK plastic material - Polyetheretherketone: https://www.ensingerplastics.com/en/thermoplastic-materials/peek-plastic — nhiệt độ dùng liên tục và ngắn hạn; điểm chuyển thuỷ tinh và nóng chảy; cơ tính và chống dão; hệ số giãn nở dài và ổn định kích thước; hút nước; chịu hơi nước và nước biển; chịu hoá chất; nhóm chi tiết; yêu cầu thoát nhiệt ma sát; ứng xử trượt phụ thuộc toàn hệ trượt. Đây là trang của một hãng vật liệu kỹ thuật.
- [2] Ensinger, PTFE plastic: https://www.ensingerplastics.com/en/thermoplastic-materials/ptfe-material — dải nhiệt độ; hệ số ma sát rất thấp; sức bền và độ cứng vững thấp; hệ số giãn nở nhiệt cao; sức căng bề mặt cực thấp; chống hoá chất; nhóm chi tiết và nhóm ứng dụng; hướng gia cố bằng chất độn. Cùng hãng với [1].
- [3] Ensinger, Plastics with good friction and wear properties: https://www.ensingerplastics.com/en/plastic-material-selection/friction-wear — định nghĩa hệ số ma sát trượt; mòn phụ thuộc độ cứng và tình trạng bề mặt; cảnh báo về trị số hệ số ma sát tra bảng và yêu cầu kèm thông số hệ của phép thử.
- [4] Dhruv Deshwal và cộng sự, Experimental analysis of PTFE and PTFE/PEEK composites for ball bearing applications, Sci Rep 2025, 16:1461: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC12796450/ — đặc tính ma sát học của PTFE; cơ chế sức bền cắt thấp của chuỗi phân tử; tốc độ mòn cao và khả năng mang tải thấp; dải nhiệt độ giữ cơ tính và nóng chảy tinh thể; hút nước; mô tả PEEK trong họ PAEK; vai trò của gia cường polyme; kết luận về ổ bi.
- [5] Judith M. Pedroso và cộng sự, Comparative Study of Friction and Wear Performance of PEK, PEEK and PEKK Binders in Tribological Coatings, Polymers (Basel) 2022, 14(19):4008: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC9571662/ — mô tả họ PAEK; vai trò của vòng aryl và nhóm ete; nhiệt độ chuyển pha; hệ số ma sát tương đối cao khi dùng một mình; chuỗi hệ quả của ma sát cao; vai trò của hạt PTFE trong việc tạo màng trượt và màng chuyển tiếp.
- [6] Lin Yuan và cộng sự, Synergistic Enhancement of the High-Temperature Friction and Wear Behavior of PTFE Matrix Composites with the Addition of CF, PEEK, and TiC, Polymers (Basel) 2024, 16(23):3412: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC11644822/ — vai trò của PTFE như vật liệu bôi trơn rắn; chịu mòn kém giới hạn phạm vi dùng; hướng độn hạt gia cường; cơ chế mạch PEEK hấp phụ phân tử nền PTFE.
- Tiêu chuẩn: không nguồn nào trong nhóm trên gọi tên một tiêu chuẩn kỹ thuật cho cặp này, nên bài không nêu số hiệu tiêu chuẩn.
Bảng này không dùng cho:
- Tra hệ số ma sát của hai vật liệu để chốt thiết kế: bài không nêu, và [3] nói rõ vì sao trị số tra bảng không đủ.
- Tính giới hạn tải nhân tốc độ trượt, tải cho phép hay tuổi thọ bạc trượt: bài không nêu.
- Chọn loại và tỉ lệ chất độn cho một chi tiết cụ thể: bài chỉ nêu hai chiều độn mà nguồn mô tả.
- So sánh mác thương mại, chọn nhà cung cấp hay chọn dạng bán thành phẩm: bài không nêu.
- Ứng dụng y tế và cấy ghép của hai vật liệu: bài không nêu, ngoài góc chi tiết máy.
Không xác định được từ bài này: hệ số ma sát của từng vật liệu trong cặp trượt của bạn, vì [3] nói trị số tra bảng luôn là gần đúng và phải kèm thông số hệ của phép thử; giới hạn tải nhân tốc độ trượt của hai vật liệu, vì nguồn đã kiểm không cho; tốc độ mòn so sánh giữa hai vật liệu nguyên chất trong cùng một điều kiện, vì [4] và [6] đo trên hai bố trí khác nhau và chủ yếu trên compozit; và khối lượng riêng cùng mô đun đàn hồi tính bằng trị số.
Cần chính xác hơn: đọc chỗ PTFE đứng cạnh một nhựa dai và chịu va đập ở bài nhựa PTFE và UHMW-PE làm chi tiết máy; đối chiếu với nhóm nhựa hút ẩm ở bài nhựa POM và nhựa PA cho chi tiết máy; còn cách tính cặp trượt có màng dầu nằm ở bài ổ trượt thuỷ động: tính sơ bộ theo số Sommerfeld.
Câu hỏi thường gặp
PEEK dùng được tới nhiệt độ nào? [1] ghi chi tiết PEEK dùng được ở nhiệt độ tới 250–260 °C nhờ khả năng chịu biến dạng nhiệt và chịu nhiệt cao, chịu nhiệt ngắn hạn 300 °C, và ghi thêm rằng dùng ở 260 °C trong 5000 giờ thì sức bền gần như vẫn bằng trạng thái ban đầu.
PTFE dùng được tới nhiệt độ nào? [2] ghi dải −200 đến 260 °C, ngắn hạn tới 300 °C; [4] ghi PTFE giữ được cơ tính trong dải −260 đến +260 °C và có nhiệt độ nóng chảy tinh thể khoảng 327–342 °C. Hai nguồn nêu hai dải hơi khác nhau, bài không phân xử.
PEEK có ma sát thấp hơn PTFE không? [5] ghi PEEK dùng một mình có hệ số ma sát tương đối cao, tới khoảng 0,7 trong một số điều kiện, nên khả năng ứng dụng cho bài toán ma sát học bị hạn chế; còn [2] ghi PTFE có hệ số ma sát rất thấp và [4] ghi PTFE tự bôi trơn tốt.
Vì sao PTFE trượt êm mà vẫn mòn nhanh? [4] ghi chuỗi dài (CF₂-CF₂)ₙ có sức bền cắt thấp nên hệ số ma sát khi trượt thấp, đồng thời ghi PTFE có tốc độ mòn cao và khả năng mang tải thấp. [6] ghi chính chịu mòn kém giới hạn phạm vi dùng của PTFE ở tải cao và tốc độ trượt cao.
Vì sao người ta trộn hai vật liệu này với nhau? Nguồn mô tả hai chiều. [5] ghi độn hạt PTFE vào PEEK cho phép hình thành lớp chuyển tiếp trong tiếp xúc, giảm ứng suất cắt và kiểm soát nhiệt ma sát. [4] ghi gia cường bằng polyme làm tăng chịu mòn, sức bền cơ học và độ bền lâu của PTFE, còn [6] mô tả mạch PEEK hấp phụ phân tử nền PTFE.
Vật liệu nào ổn định kích thước hơn? [1] ghi PEEK có hệ số giãn nở dài thấp, giữ được kích thước ổn định tới 150 °C gần điểm chuyển thuỷ tinh, và giữ ổn định lâu dài nhờ độ cứng vững cao cùng chống dão; [2] xếp hệ số giãn nở nhiệt cao vào nhóm đặc tính của PTFE.
Hai vật liệu này hút ẩm nhiều không? [1] ghi PEEK hút nước thấp, 0,03 %, nên ít đổi kích thước do trương ngay cả khi độ ẩm cao; [4] ghi PTFE hút nước rất thấp nên ổn định kích thước nổi trội.
Có nên tra bảng hệ số ma sát để chốt vật liệu không? [3] viết trị số trong bảng luôn là gần đúng vì hệ số ma sát phụ thuộc cặp vật liệu, bề mặt, bôi trơn, nhiệt độ, độ ẩm, mòn và lực pháp tuyến; phép thử trong điều kiện thật cho kết quả chính xác nhất. [1] cũng ghi ứng xử trượt phụ thuộc toàn bộ hệ trượt.