Hằn lõm thật là vết lõm còn lại vĩnh viễn khi tải vượt giới hạn chảy của vật liệu, thuộc nhánh biến dạng dẻo. Hằn lõm giả là vết sinh ra từ vi chuyển động và rung lúc ổ đứng yên, thuộc nhánh ăn mòn ma sát, hình thành do ăn mòn cộng mòn chứ không do biến dạng.
Kết luận trên đúng khi đọc hai kiểu theo cây phân loại hư hỏng ổ lăn in trong tài liệu công khai của SKF, nơi hằn lõm giả nằm ở nhánh ăn mòn ma sát còn biến dạng quá tải nằm ở nhánh biến dạng dẻo [1]. Phạm vi nguồn: hai hãng ổ lăn [1][4][5] và một hãng theo dõi tình trạng tua bin gió [2][3], nên ví dụ bên phía tua bin mang ngữ cảnh riêng. Nguồn đã kiểm không cho ngưỡng rung hay thời gian đứng yên nào.
Bảng đối chiếu hằn lõm thật và hằn lõm giả
| Tiêu chí | Hằn lõm thật | Hằn lõm giả |
|---|---|---|
| Vị trí trong cây phân loại của SKF | Nhánh biến dạng dẻo, mục biến dạng quá tải [1] | Nhánh ăn mòn, nhóm ăn mòn ma sát [1][5] |
| Cơ chế | Tải vượt giới hạn chảy của vật liệu [2]; áp suất Hertz trong tiếp xúc lăn vượt ứng suất tiếp xúc cho phép [4] | Vi chuyển động hoặc đàn hồi của tiếp xúc dưới dao động, rung; ăn mòn cộng mòn tạo vết lõm nông [1] |
| Vật liệu có mất đi không | Không: hư hại là biến dạng dẻo, không phải mòn bề mặt [2] | Có: nhấp nhô bề mặt bị ôxy hoá rồi bị chà đi [3] |
| Nguyên nhân hay gặp | Quá tải tĩnh, tải va đập hoặc cầm nắm sai [1] | Rung từ máy khác khi máy không quay [1]; vi chuyển động khi ổ đứng yên lắc qua lắc lại [3] |
| Ổ phải quay hay không | Xảy ra cả khi ổ đứng yên lẫn khi đang chạy [4] | Vết theo bước con lăn là trường hợp ổ đứng yên; khi ổ đang quay, SKF ghi vết thành các vằn song song [1] |
| Khoảng cách giữa các vết | Trùng bước con lăn khi lực lắp truyền qua con lăn hoặc khi ổ chịu tải bất thường lúc đứng yên [1] | Trùng bước con lăn khi ổ đứng yên [1] |
| Hình dạng vết | Hình elip, tròn hoặc chữ nhật theo hình vệt tiếp xúc Hertz [2] | Với ổ bi là vết lõm dạng chỏm cầu, với ổ đũa là vết lõm dài [1] |
| Dấu nhận ở đáy vết | Vân gia công nguyên thuỷ còn thấy được trong đáy vết [2] | Nhiều trường hợp nhận ra gỉ ở đáy vết, do hạt bong ra bị ôxy hoá [1] |
| Mép vết và màu | Mép có thể nhô lên do vật liệu bị đẩy trồi [2]; nguồn đã kiểm không mô tả màu | Nguồn đã kiểm không mô tả mép nhô; bôi mỡ cho vết nâu đỏ, bôi dầu cho vết bóng như gương [1] |
| Con lăn có bị theo không | Con lăn cũng có thể bị lõm [1] | Con lăn thường hư hại ít hơn hẳn [1]; vết hay rõ trên rãnh lăn hơn [3] |
Các mục [1]–[5] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 15/09/2026. Bài không nêu trị số nào vì nguồn đã kiểm không cho ngưỡng đo được.
Vì sao hai vết giống nhau đến thế
Chỗ gây lẫn nằm ở khoảng cách giữa các vết. Trong phần thuật ngữ, SKF ghi vết cách nhau đúng bước con lăn hay thấy ở ổ bị ăn mòn do ẩm, ở biến dạng quá tải và ở hằn lõm giả [1]. Dấu hiệu quen thuộc nhất — dãy vết cách đều trên rãnh lăn — vì thế không tách được hai kiểu.
Nguyên nhân hình học thì dễ hiểu. Với hằn lõm thật, mỗi con lăn nằm trong vùng tải mà chỗ tiếp xúc của nó có ứng suất vượt giới hạn chảy sẽ để lại một vết, nên các vết đi thành cụm [2]. Với hằn lõm giả lúc ổ đứng yên, mỗi con lăn cũng đứng ở một chỗ cố định trên rãnh và mài tại chỗ đó, nên vết cũng xuất hiện theo bước con lăn [1].
ONYX nói thẳng điều này ở cả hai bài của họ: hằn lõm thật hay bị lẫn với hằn lõm giả, vốn là cơ chế khác do ăn mòn ma sát sinh bởi rung chứ không do quá tải [2]; ở chiều ngược lại, ăn mòn ma sát trông giống hằn lõm thật nhưng một bên ép lún bề mặt nguyên thuỷ còn một bên mài mất bề mặt đi [3].
Chỗ phân biệt thật sự: đáy vết còn vân gia công hay không
Câu quyết định nằm ở ONYX: tuy giống hệt nhau về hình dạng, vân bề mặt nguyên thuỷ vẫn còn thấy được trong đáy của một vết hằn lõm thật [2]. Cách hiểu của bài: hằn lõm thật ép vật liệu lún xuống mà không lấy đi vật liệu, nên lớp mặt cùng vết gia công của nó đi xuống theo; hằn lõm giả thì chà mất lớp mặt, nên vân cũ mất theo.
Mấy dấu đi kèm cùng chiều. Ở phía hằn lõm thật, ONYX mô tả mép vết có thể nhô lên vì vật liệu quanh mép bị đẩy trồi khi vết lõm hình thành [2]. Ở phía hằn lõm giả, SKF mô tả đáy vết nhiều khi nhận ra gỉ, do các hạt bong ra bị ôxy hoá vì diện tích lớn so với thể tích khi phơi ra không khí [1]; NTN thêm rằng vi chuyển động đẩy màng bôi trơn ra khỏi vùng tiếp xúc nên bề mặt không còn được che, rồi ăn mòn [5].
Màu vết cũng nói được, nhưng chỉ ở một phía. SKF ghi hằn lõm giả trong ứng dụng bôi mỡ thường có màu nâu đỏ, còn trong ứng dụng bôi dầu thì thành các vết lõm bóng như gương [1]. Nguồn đã kiểm không mô tả màu cho hằn lõm thật, nên bài không đối chiếu màu hai chiều. Dấu vết mòn của các cơ chế khác trên cùng mặt lăn xem ở mòn dính và mòn hạt mài.
Hai nguyên nhân ở hai thời điểm khác nhau
Hằn lõm thật đến từ tải. SKF gộp quá tải tĩnh, tải va đập và cầm nắm sai vào cùng một mục, với lý do ghi rõ: vết để lại giống nhau trong cả ba trường hợp [1]. Tài liệu chỉ ra các thời điểm cụ thể: lúc lắp ổ vào máy, lúc máy bị va đập thô bạo sau khi lắp, và lúc lắp thêm chi tiết khác lên trục như khớp nối [1]. Rãnh lăn và con lăn bị lõm khi lực lắp truyền qua con lăn, hoặc khi ổ chịu tải bất thường lúc đang đứng yên [1]; NTN nêu ví dụ quen thuộc là đóng búa trực tiếp vào ổ lúc lắp [4]. Cách lắp đúng xem ở lắp ổ lăn lên trục và vào gối; đại lượng tải tĩnh dùng để kiểm xem ở tải tĩnh C0 và tải động C của ổ lăn.
Hằn lõm giả đến từ rung khi máy không quay. SKF viết rung từ máy khác trong khi máy không quay dẫn tới hằn lõm giả trên rãnh lăn, hư hại này hay xuất hiện trong vùng chịu tải, và đây là vấn đề hay gặp gây ồn ở thiết bị dự phòng lâu không chạy [1]. NTN ghi các vết trong ví dụ của họ sinh ra do rung lúc ổ đứng yên [5]. ONYX thêm một nguồn nữa của vi chuyển động: ổ trong máy đứng yên lắc qua lắc lại [3]; đây là ngữ cảnh tua bin gió, bài không nâng lên thành đặc tính chung cho loại máy khác.
SKF cũng nêu mức độ hư hại phụ thuộc mức rung, tần số rung và độ dài thời gian đứng yên [1] — phụ thuộc, nhưng tài liệu không cho ngưỡng nào, nên bài không đưa con số. Biện pháp SKF nêu cũng thuần định tính: quay trục của máy dự phòng theo chu kỳ để giảm ảnh hưởng của rung [1]. Theo dõi mức rung của máy xem ở rung động máy theo ISO 20816.
Bốn mẹo sai hay gặp
Mẹo sai 1: "Vết cách đều theo bước con lăn thì chắc chắn do va đập lúc lắp." Phần thuật ngữ của SKF ghi khoảng cách trùng bước con lăn hay thấy ở ăn mòn do ẩm, ở biến dạng quá tải và ở hằn lõm giả [1]. Ở mục hằn lõm giả, SKF lặp lại: khi ổ đứng yên, các vết lõm xuất hiện đúng theo bước con lăn [1].
Mẹo sai 2: "Hằn lõm giả cũng là biến dạng dẻo, chỉ nhẹ hơn." ONYX ghi hư hại hằn lõm giả là kết quả của mòn bề mặt, không phải biến dạng dẻo [2]. SKF xếp nó vào nhánh ăn mòn ma sát, tách hẳn khỏi nhánh biến dạng dẻo [1].
Mẹo sai 3: "Ổ nằm im trong kho hay trong máy dự phòng thì an toàn." SKF ghi rung từ máy khác trong khi máy không quay dẫn tới hằn lõm giả trên rãnh lăn, và gọi đó là vấn đề hay gặp gây ồn ở thiết bị dự phòng lâu không vận hành [1]. NTN mô tả vết trong ví dụ của họ sinh ra đúng lúc ổ đứng yên [5].
Mẹo sai 4: "Cứ phân tích dầu là ra." ONYX ghi hằn lõm thật không làm bong vật liệu nên cảm biến mạt dầu không phát hiện được [2], và ăn mòn ma sát sinh rất ít mạt nên cũng không bắt được [3]. Cùng nguồn xếp nội soi là cách phân biệt được hai kiểu [2][3].
Bảng quyết định: thấy gì khi tháo ổ ra xem
| Thấy hoặc làm được tại xưởng | Nghiêng về | Căn cứ |
|---|---|---|
| Soi đáy vết lõm, còn thấy vân gia công nguyên thuỷ | Hằn lõm thật | [2] |
| Soi đáy vết lõm, vân cũ mất, bề mặt như bị chà | Hằn lõm giả | [2][3] |
| Thấy gỉ đọng ở đáy vết | Hằn lõm giả | [1] |
| Mép vết nhô lên, sờ thấy gờ | Hằn lõm thật | [2] |
| Vết nâu đỏ trên ổ bôi mỡ, hoặc vết bóng như gương trên ổ bôi dầu | Hằn lõm giả | [1] |
| Rãnh lăn có vết rõ còn con lăn gần như lành | Hằn lõm giả | [1][3] |
| Máy vừa nằm chờ lâu cạnh máy khác đang chạy, nay kêu ồn | Xét hằn lõm giả trước khi nghĩ tới quá tải | [1] |
| Ổ mới lắp đã ồn, và lực lắp từng truyền qua con lăn | Xét hằn lõm thật do biến dạng quá tải | [1] |
| Định dựa vào cảm biến mạt dầu để kết luận | Đổi cách: nguồn ghi cách đó không bắt được kiểu nào trong hai kiểu | [2][3] |
Nguồn và giới hạn
Tra ngày 15/09/2026. Mã HTTP của từng URL đo bằng curl không theo chuyển hướng; cả năm trả 200.
- [1] SKF, Bearing damage and failure analysis (PDF): https://cdn.skfmediahub.skf.com/api/public/093168a92d25cc46/pdf_preview_medium/093168a92d25cc46_pdf_preview_medium.pdf — mục biến dạng quá tải và mục hằn lõm giả; hình dạng vết theo loại con lăn, màu vết theo cách bôi trơn, gỉ ở đáy vết, con lăn ít hư hại hơn, vết thành vằn khi ổ quay, phần thuật ngữ và cây phân loại.
- [2] ONYX Insight, Brinelling – Bearing failure, failureATLAS: https://onyxinsight.com/resources-support/failure-atlas/brinelling-bearing-failure/ — định nghĩa hằn lõm thật, cơ chế vượt giới hạn chảy, vết theo hình vệt tiếp xúc, vân gia công còn trong đáy vết, mép nhô, tập trung ứng suất, cảm biến mạt dầu không bắt được.
- [3] ONYX Insight, Fretting Corrosion – Bearing failure, failureATLAS: https://onyxinsight.com/resources-support/failure-atlas/fretting-corrosion-bearing-failure/ — hằn lõm giả là vệt phẳng bị ôxy hoá do vi chuyển động lặp lại, nhấp nhô bị ôxy hoá rồi chà đi, phân biệt với hằn lõm thật, màng bôi trơn bị ép ra, mức nhẹ hay gặp, nội soi phân biệt được.
- [4] NTN, Plastic deformation, Bearing Wizard: https://bearingwizard.com/rolling-bearing-damage/plastic-deformation/ — biến dạng dẻo là biến dạng còn mãi do vượt giới hạn chảy; áp suất Hertz vượt ứng suất cho phép; đóng búa trực tiếp lúc lắp; quá tải xảy ra cả khi ổ đứng yên lẫn khi chạy.
- [5] NTN, Corrosion, Bearing Wizard: https://bearingwizard.com/rolling-bearing-damage/corrosion/ — ăn mòn chia hai nhánh, ăn mòn ma sát lại chia thành hai loại trong đó có hằn lõm giả; vi chuyển động dưới rung theo chu kỳ; màng bôi trơn bị đẩy khỏi vùng tiếp xúc; tên gọi khác của hiện tượng.
- Tiêu chuẩn, chỉ nêu tên và số hiệu: ISO 15243 Rolling bearings — Damage and failures — Terms, characteristics and causes, số hiệu đọc trong [1] và [5]; SKF ghi phân loại của hãng trùng phân loại của tiêu chuẩn này. DIN 50900, số hiệu do NTN dẫn khi định nghĩa ăn mòn ma sát [5]. Cả hai là tài liệu trả phí; bài không trích nội dung bên trong, chỉ dùng cây phân nhánh in trong tài liệu công khai [1].
Cân bằng nhà xuất bản: năm URL, ba nhà xuất bản. Hai trong ba là hãng bán ổ lăn (SKF, NTN); nhà thứ ba là hãng theo dõi tình trạng tua bin gió, nên ví dụ và ngữ cảnh của [2][3] là tua bin gió. Bài không có trị số đo nào, vì nguồn đã kiểm không cho ngưỡng nào.
Bảng này không dùng cho:
- Ngưỡng rung, tần số rung hay thời gian đứng yên sinh ra hằn lõm giả: [1] chỉ nói mức hư hại phụ thuộc ba yếu tố đó, không cho số.
- Quyết định thay hay giữ một ổ đã có vết, và tuổi thọ còn lại sau khi có vết: bài không nêu.
- Các kiểu hư hỏng khác trong cùng cây phân loại, hồ sơ theo JIS hay TCVN: bài không nêu.
Không xác định được từ bài này: kiểu vết trên một ổ cụ thể nếu chỉ nhìn nhịp vết trên rãnh, vì hai kiểu cho cùng một nhịp theo bước con lăn; và đặc điểm màu của hằn lõm thật, vì nguồn đã kiểm chỉ mô tả màu cho vế hằn lõm giả.
Cần chính xác hơn: tiếng kêu, độ nóng và rung của ổ đang hỏng xem ở chẩn đoán vòng bi rung, nóng, kêu lạ; vết ở mặt lắp ghép giữa vòng ổ với trục hay gối là chuyện khác, xem ở mối ghép trung gian và fretting.
Câu hỏi thường gặp
False brinelling là gì? Là hằn lõm giả. Theo phần thuật ngữ của SKF, đó là tổ hợp của ăn mòn và mòn cục bộ, sinh ra khi con lăn của ổ dao động hoặc rung tì vào mặt rãnh lăn trong một ổ đang đứng yên [1]. NTN ghi thêm các tên gọi khác như vết đứng yên hay vết gợn [5].
Vì sao hai vết khó phân biệt? Vì cả hai xuất hiện theo đúng bước con lăn. SKF ghi khoảng cách trùng bước con lăn hay thấy ở cả biến dạng quá tải lẫn hằn lõm giả [1], và ONYX ghi hai vết giống hệt nhau về hình dạng [2].
Cách phân biệt chắc nhất tại xưởng là gì? Soi đáy vết: ONYX ghi vân bề mặt nguyên thuỷ vẫn còn thấy được trong đáy một vết hằn lõm thật [2], còn hằn lõm giả là bề mặt bị chà mất đi [3]. Cùng nguồn xếp nội soi là cách phân biệt được hai kiểu [2].
Ổ để trong kho có bị hằn lõm giả không? SKF nêu rung từ máy khác trong khi máy không quay dẫn tới hằn lõm giả trên rãnh lăn, và gọi đây là vấn đề hay gặp gây ồn ở thiết bị dự phòng lâu không chạy [1]. Biện pháp SKF nêu là quay trục máy dự phòng theo chu kỳ [1].
Hằn lõm thật có tiến triển thành hư hỏng nặng hơn không? ONYX ghi các vết lõm dẻo tạo vùng tập trung ứng suất cục bộ, và khi con lăn khác cán qua trong lúc máy chạy tiếp thì vết nứt có thể khởi phát trên mặt rãnh [2]. Cùng nguồn ghi màng dầu có thể mỏng đi vì dầu lọt xuống các vết lõm [2]. Quyết định thay hay giữ một ổ đã có vết nằm ngoài phạm vi bài.