Dung sai vị trí giới hạn sai lệch của một phần tử kích thước so với vị trí đúng dựng bằng kích thước cơ sở; dung sai đối xứng giới hạn các điểm giữa của hai bề mặt quanh một mặt phẳng chuẩn. ASME Y14.5-2018 đã bỏ ký hiệu đối xứng, theo ba nguồn đã kiểm.
Kết luận trên đúng khi đọc bản vẽ theo bộ ký hiệu của ASME Y14.5. Phạm vi nguồn: hai trang từ điển ký hiệu, hai bài tóm tắt thay đổi của bản 2018 và một bài trình bày của hãng thiết bị đo. Nguồn đã kiểm không nói về ISO 1101, nên bài chỉ nêu tên và số hiệu của tiêu chuẩn đó, không kết luận gì về bộ ký hiệu của nó; và một nguồn nhắc rằng việc áp dụng tiêu chuẩn nói chung là tự nguyện, nhiều nơi còn lâu mới chuyển sang bản mới.
Bảng đối chiếu dung sai vị trí và dung sai đối xứng
| Tiêu chí | Dung sai vị trí | Dung sai đối xứng |
|---|---|---|
| Kiểm soát cái gì | Sai lệch cho phép của phần tử so với vị trí đúng của nó [1] | Độ đồng đều của hai bề mặt qua một mặt phẳng chuẩn [2] |
| Phần tử áp dụng | Áp cho phần tử kích thước như lỗ, rãnh, vấu, tai, mặt cầu, và kiểm soát phần tử tâm của chúng [1] | Hai hay nhiều bề mặt đối nhau, xét qua các điểm giữa của chúng [2] |
| Vị trí đúng dựng từ đâu | Toạ độ đúng do kích thước cơ sở hoặc cách khác xác định, thể hiện trị số danh nghĩa [1] | Mặt phẳng tâm "đúng" dựng từ chuẩn [2] |
| Vùng dung sai | Vùng ba chiều bao quanh vị trí đúng [1]; với lỗ trụ thì trị số trong khung có ký hiệu đường kính, tức vùng tròn hoặc trụ [1] | Hai mặt phẳng song song nằm hai bên mặt phẳng chuẩn tâm; các điểm giữa phải nằm trong vùng đó [2] |
| Chuẩn tham chiếu | Chuẩn ghi trong khung kiểm; thường hai hoặc ba chuẩn để định vị và định hướng vị trí đúng [1] | Có chuẩn [2] |
| Dùng với điều kiện vật liệu | Dùng được với MMC, LMC, dung sai chiếu và mặt phẳng tiếp xúc [1] | Nguồn ghi không áp dụng điều kiện vật liệu [2] |
| Cách kiểm | Đo toạ độ của phần tử so với các chuẩn ghi trong khung kiểm [1] | Khó đo; vùng dung sai gắn với mặt phẳng ảo nên không có calip kiểm nhanh [2]; thường phải lập trình máy CMM dựng mặt phẳng tâm lý thuyết rồi quét hai bề mặt [2] |
| Trạng thái trong ASME Y14.5-2018 | Vẫn còn trong bộ ký hiệu | Đã bỏ: nguồn ghi cả thuật ngữ, ký hiệu và khái niệm đều được gỡ [5]; hai nguồn khác ghi cùng nội dung [3][4] |
Nguồn [1]–[5] ghi ở khối "Nguồn và giới hạn", tra ngày 12/09/2026. Bài chỉ nêu tên và số hiệu tiêu chuẩn, không trích nội dung điều khoản.
Hai thứ khác nhau: vị trí của phần tử, và điểm giữa của hai bề mặt
GD&T Basics định nghĩa dung sai vị trí là tổng sai lệch cho phép mà một phần tử có thể có so với vị trí đúng của nó, còn vị trí đúng là toạ độ chính xác do kích thước cơ sở hoặc cách khác xác định, thể hiện trị số danh nghĩa [1]. Nguồn cũng ghi rõ phạm vi: vị trí áp cho phần tử kích thước — lỗ, rãnh, vấu, tai, mặt cầu — và kiểm soát phần tử tâm của chúng, còn việc định vị bề mặt thì dùng dung sai biên dạng [1].
Dung sai đối xứng nhắm vào một thứ khác. Cùng nguồn mô tả: đó là dung sai ba chiều dùng để bảo đảm hai bề mặt của chi tiết đồng đều qua một mặt phẳng chuẩn; một mặt phẳng tâm "đúng" được dựng từ chuẩn, và để đạt dung sai, khoảng cách trung vị giữa mọi điểm trên hai bề mặt phải rơi gần mặt phẳng tâm đó [2]. Vùng dung sai là hai mặt phẳng song song nằm hai bên mặt phẳng chuẩn tâm, và các điểm giữa của hai bề mặt đối xứng phải nằm trong vùng đó [2].
Cách hiểu của bài: vị trí nói về chỗ đứng của một phần tử kích thước so với khung chuẩn; đối xứng nói về sự cân bằng của vật liệu quanh một mặt phẳng. Hai câu hỏi khác nhau, nên cách kiểm cũng khác. Với vị trí, nguồn ghi có thể đo toạ độ của phần tử so với các chuẩn trong khung kiểm [1], và dung sai vị trí dùng được với MMC, LMC, dung sai chiếu và mặt phẳng tiếp xúc [1]; cách đọc các điều kiện vật liệu đó xem ở MMC, LMC và RFS. Với đối xứng, nguồn nói thẳng là khó đo: vùng dung sai gắn với một mặt phẳng ảo nên không thể có calip kiểm nhanh [2], và cách làm thường gặp là lập trình máy CMM tính mặt phẳng chuẩn tâm lý thuyết, quét hai bề mặt rồi xác định các điểm giữa nằm đâu so với mặt phẳng chuẩn [2]. Chính nguồn gọi đây là phương pháp phức tạp và đôi khi thiếu chính xác [2]. Nguyên lý máy đo toạ độ xem ở máy đo toạ độ CMM.
GD&T Basics còn đặt hai ký hiệu cạnh nhau theo cách dễ nhớ: đối xứng là bản không tròn xoay của đồng tâm, và ký hiệu đối xứng nhắm vào sự đối xứng qua một mặt phẳng chuẩn [2]. Cặp độ đảo và độ đồng trục đã có bài riêng, xem ở độ đảo và độ đồng trục.
Vì sao ký hiệu đối xứng bị bỏ khỏi bản 2018
Ba nguồn độc lập nói cùng một việc. Bài tóm tắt thay đổi của GD&T Basics đặt tiêu đề thẳng là hai ký hiệu đồng tâm và đối xứng bị gỡ bỏ, và ghi rằng cho tới bản 2009, tiêu chuẩn ASME có 14 ký hiệu cơ bản để định nghĩa các đặc trưng hình học, trong đó hai ký hiệu đồng tâm và đối xứng nay đã bị rút khỏi bộ công cụ [3]. Bài của Made to Measure ghi tách bạch từng dòng: đồng tâm, cả định nghĩa lẫn ký hiệu, đã bị bỏ; đối xứng, cả định nghĩa lẫn ký hiệu, đã bị bỏ [4]. Bài trình bày của Mitutoyo liệt kê trong nhóm thay đổi đáng kể của ASME Y14.5-2018: dung sai đồng tâm và đối xứng đã bị bỏ cả thuật ngữ, ký hiệu lẫn khái niệm [5].
Lý do mà các nguồn đưa ra xoay quanh hai điểm. Thứ nhất là chuyện dùng sai và phiền phức khi dùng: GD&T Basics ghi thay đổi này phần lớn do những rắc rối gắn với việc dùng hai ký hiệu đó [3], và Mitutoyo ghi nhiều tổ chức đã cấm dùng các dung sai này từ hàng chục năm trước [5]. Thứ hai là có cách khác làm tốt hơn: GD&T Basics ghi vẫn luôn có thể định nghĩa các phần tử tâm bằng những ký hiệu khác thông dụng hơn, ví dụ đồng tâm thường được định nghĩa tốt hơn bằng dung sai vị trí và độ đảo [3]; Made to Measure ghi vì đồng tâm và đối xứng không hẳn là những trị số cụ thể, chúng được thay bằng các phép đo có độ lặp lại đáng tin hơn [4]. Ngay trang từ điển ký hiệu cũng đã khuyến cáo từ trước: đối xứng nên tránh trong phần lớn trường hợp vì yêu cầu chức năng rất hẹp và vì khó đo [2], và việc định vị theo tâm thì làm bằng dung sai vị trí [2].
Điểm cuối cùng là phạm vi hiệu lực, và chính nguồn nêu ra. Mitutoyo ghi nói chung việc áp dụng bất kỳ tiêu chuẩn nào cũng là tự nguyện, với nhiều tổ chức thì có khi phải nhiều năm nữa mới bắt đầu dùng bản ASME Y14.5 mới, hoặc không dùng, nên điều quan trọng là biết mình đang dùng bản nào [5]. Với người đọc bản vẽ ở Việt Nam, đó là câu đáng nhớ nhất: gặp ký hiệu đối xứng trên bản vẽ không có nghĩa bản vẽ sai, mà có nghĩa phải hỏi bản vẽ theo tiêu chuẩn nào và bản năm nào. Danh mục ký hiệu hình học đọc ở ký hiệu dung sai hình học.
Ba mẹo sai hay gặp
Mẹo sai 1: "Đối xứng và vị trí là hai cách gọi của cùng một thứ." GD&T Basics ghi vị trí áp cho phần tử kích thước và kiểm soát phần tử tâm của chúng [1], còn đối xứng xét các điểm giữa của hai bề mặt đối nhau quanh mặt phẳng chuẩn tâm [2]. Vùng dung sai cũng khác: vị trí là vùng ba chiều bao quanh vị trí đúng [1], đối xứng là hai mặt phẳng song song hai bên mặt phẳng chuẩn [2].
Mẹo sai 2: "Cứ ghi đối xứng cho chắc, thợ sẽ làm cẩn thận hơn." Nguồn ghi ngược lại: đối xứng rất khó đo, vùng dung sai gắn với mặt phẳng ảo nên không có calip kiểm nhanh, và cách đo bằng máy CMM là phương pháp phức tạp, đôi khi thiếu chính xác [2]. Cùng nguồn khuyên tránh dùng trong phần lớn trường hợp [2], và ASME Y14.5-2018 đã bỏ ký hiệu này [5].
Mẹo sai 3: "Bản 2018 bỏ rồi thì bản vẽ cũ có ký hiệu đối xứng là sai." Mitutoyo ghi việc áp dụng tiêu chuẩn nói chung là tự nguyện, nhiều tổ chức có khi nhiều năm nữa mới dùng bản mới hoặc không dùng, và điều cần biết là đang dùng bản nào [5]. Bản vẽ cũ ghi theo bản cũ thì đọc theo bản cũ.
Bảng quyết định: thấy gì trên bản vẽ hoặc tại xưởng thì làm gì
| Thấy hoặc đo được | Làm gì | Căn cứ |
|---|---|---|
| Bản vẽ ghi ký hiệu đối xứng, khung tên không nói theo bản nào | Hỏi lại bản vẽ theo tiêu chuẩn và bản năm nào trước khi lập quy trình đo | Áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện; cần biết mình đang dùng bản nào [5] |
| Bản vẽ mới, cần khống chế một rãnh nằm giữa thân chi tiết | Dùng dung sai vị trí cho phần tử kích thước đó | Việc định vị theo tâm làm bằng dung sai vị trí [2]; vị trí áp cho phần tử kích thước và kiểm soát phần tử tâm [1] |
| Cần khống chế một bề mặt chứ không phải phần tử kích thước | Dùng dung sai biên dạng | Việc định vị bề mặt thì dùng dung sai biên dạng [1] |
| Xưởng chỉ có calip và đồ gá, không có máy CMM | Tránh ghi đối xứng | Không có calip kiểm nhanh cho đối xứng [2]; phải dựng mặt phẳng tâm lý thuyết bằng CMM [2] |
| Cần kiểm nhanh bằng calip cho vị trí lỗ | Cân nhắc ghi vị trí kèm điều kiện vật liệu | Vị trí dùng được với MMC và LMC [1] |
| Phần tử là lỗ trụ | Đọc ký hiệu đường kính trong khung kiểm để biết vùng là trụ | Trị số trong khung có ký hiệu đường kính thì vùng dung sai là tròn hoặc trụ [1] |
| Đang rà soát bản vẽ cũ nhiều ký hiệu đồng tâm và đối xứng | Xếp lịch chuyển sang ký hiệu khác, có đối chiếu chức năng | Đồng tâm thường được định nghĩa tốt hơn bằng vị trí và độ đảo [3]; nhiều tổ chức đã cấm dùng từ hàng chục năm trước [5] |
Nguồn và giới hạn
Tra ngày 12/09/2026. Mỗi câu dẫn đã đối chiếu trên bản văn tải trực tiếp từ trang nguồn.
- [1] GD&T Basics, True Position – Position Tolerance: https://www.gdandtbasics.com/true-position/ — định nghĩa vị trí và vị trí đúng; phạm vi áp cho phần tử kích thước và phần tử tâm; định vị bề mặt dùng biên dạng; vùng dung sai ba chiều; ký hiệu đường kính cho vùng trụ; chuẩn trong khung kiểm; dùng được với MMC, LMC, dung sai chiếu và mặt phẳng tiếp xúc.
- [2] GD&T Basics, Symmetry: https://www.gdandtbasics.com/symmetry/ — định nghĩa đối xứng và mặt phẳng tâm dựng từ chuẩn; vùng hai mặt phẳng song song và các điểm giữa; không áp dụng điều kiện vật liệu; khó đo, không có calip kiểm nhanh, cách đo bằng CMM và nhận xét về độ chính xác; đối xứng là bản không tròn xoay của đồng tâm; khuyến cáo tránh dùng.
- [3] GD&T Basics, ASME Y14.5 2009 vs 2018: https://www.gdandtbasics.com/asme-2009-vs-2018/ — hai ký hiệu đồng tâm và đối xứng bị gỡ; số ký hiệu cơ bản cho tới bản 2009; lý do gắn với rắc rối khi dùng; có thể định nghĩa phần tử tâm bằng ký hiệu thông dụng hơn; đồng tâm thường được định nghĩa tốt hơn bằng vị trí và độ đảo.
- [4] Made to Measure (Metrology Parts), ASME has just released Y14.5-2018: what's new: https://madetomeasurecmm.com/blogs/made-to-measure/asme-has-just-released-y14-5-2018-whats-new — đồng tâm và đối xứng bị bỏ cả định nghĩa lẫn ký hiệu; lý do liên quan tới độ lặp lại của phép đo; các mục được đánh số lại nhưng trật tự thông tin không đổi.
- [5] Mitutoyo America Corporation (bài trình bày của Ray Salsbury, 2019), ASME Y14.5-2018 (PDF): https://www.mitutoyo.com/webfoo/wp-content/uploads/ASME_Y14.5-2018_Salsbury.pdf — liệt kê nhóm thay đổi đáng kể; dung sai đồng tâm và đối xứng bị bỏ cả thuật ngữ, ký hiệu lẫn khái niệm; nhiều tổ chức đã cấm dùng từ hàng chục năm trước; việc áp dụng tiêu chuẩn là tự nguyện và cần biết đang dùng bản nào.
- Tiêu chuẩn, chỉ dẫn tên và số hiệu: ASME Y14.5-2018 Dimensioning and Tolerancing; ASME Y14.5-2009; ISO 1101 Geometrical product specifications (GPS) — Geometrical tolerancing. Tài liệu trả phí; bài không trích nội dung điều khoản.
Bảng này không dùng cho:
- Bộ ký hiệu theo ISO 1101: nguồn đã kiểm không nói về tiêu chuẩn đó, bài chỉ nêu tên và số hiệu.
- Trị số dung sai cụ thể cho một chi tiết: phải lấy từ bản vẽ và yêu cầu chức năng.
- Cách tính sai lệch vị trí từ số đo toạ độ: bài không nêu công thức.
- Chuyển đổi một ghi chú đối xứng cũ sang ghi chú mới: cần đối chiếu chức năng của chi tiết, bài không đưa quy tắc đổi.
- Hồ sơ theo TCVN: chưa đối chiếu.
Không xác định được từ bài này: ký hiệu đối xứng còn hay không trong bộ ký hiệu của ISO 1101 — nguồn đã kiểm không nói; và trị số dung sai nên ghi cho một rãnh cụ thể, vì điều đó thuộc về chức năng lắp ghép của chi tiết.
Cần chính xác hơn: cách đọc và tính dung sai vị trí xem ở dung sai vị trí trong GD&T; nhóm ký hiệu biên dạng dùng thay cho việc khống chế bề mặt xem ở dung sai biên dạng.
Câu hỏi thường gặp
Dung sai đối xứng là gì? Theo GD&T Basics, đó là dung sai ba chiều bảo đảm hai bề mặt của chi tiết đồng đều qua một mặt phẳng chuẩn: một mặt phẳng tâm được dựng từ chuẩn, và khoảng cách trung vị giữa các điểm trên hai bề mặt phải rơi gần mặt phẳng đó. Vùng dung sai là hai mặt phẳng song song hai bên mặt phẳng chuẩn tâm.
Dung sai vị trí khống chế cái gì? Cùng nguồn ghi vị trí là tổng sai lệch cho phép của một phần tử so với vị trí đúng của nó, trong đó vị trí đúng là toạ độ chính xác do kích thước cơ sở xác định. Vị trí áp cho phần tử kích thước như lỗ, rãnh, vấu, tai hay mặt cầu và kiểm soát phần tử tâm của chúng.
ASME Y14.5-2018 bỏ những ký hiệu nào? Ba nguồn đã kiểm đều ghi hai ký hiệu bị bỏ là đồng tâm và đối xứng. Bài trình bày của Mitutoyo ghi chúng bị bỏ cả thuật ngữ, ký hiệu lẫn khái niệm; bài của Made to Measure ghi rõ từng ký hiệu bị bỏ cả định nghĩa lẫn hình vẽ.
Vì sao đối xứng khó đo? GD&T Basics ghi vùng dung sai của đối xứng gắn với một mặt phẳng ảo, nên không có calip kiểm nhanh; cách làm thường gặp là dùng máy CMM tính mặt phẳng chuẩn tâm lý thuyết, quét hai bề mặt rồi xét vị trí các điểm giữa. Nguồn gọi đó là phương pháp phức tạp và đôi khi thiếu chính xác.
Bản vẽ cũ có ký hiệu đối xứng thì xử lý ra sao? Mitutoyo ghi việc áp dụng tiêu chuẩn nói chung là tự nguyện, nhiều tổ chức có khi phải nhiều năm nữa mới bắt đầu dùng bản mới hoặc không dùng, nên điều quan trọng là biết bản vẽ theo bản nào. Bản vẽ ghi theo bản cũ thì đọc và kiểm theo bản cũ.
Thay ký hiệu đối xứng bằng gì? GD&T Basics ghi việc định vị theo tâm được làm bằng dung sai vị trí, và cho rằng đối xứng trong phần lớn trường hợp có thể thay bằng dung sai vị trí. Với đồng tâm, nguồn ghi nó thường được định nghĩa tốt hơn bằng dung sai vị trí và độ đảo.