Chuyển đến nội dung chính
CƠ KHÍ.NET
Thủy lực – khí nén

Chỉ tiêu đánh giá chất lượng bơm thuỷ lực: đọc ở áp suất làm việc, không ở áp suất không

Nguyễn Đỗ Tùng

Biên soạn có hỗ trợ công cụ · nguồn dẫn kèm · cập nhật

Chất lượng một bơm thuỷ lực chấm bằng bốn chỉ tiêu: hiệu suất thể tích, hiệu suất toàn phần, dải độ nhớt cho phép, và yêu cầu độ sạch dầu. Cả bốn chỉ có nghĩa khi đọc tại áp suất làm việc thật, vì rò rỉ nội trong bơm tăng theo áp suất.

Kết luận trên đúng khi chọn hoặc nghiệm thu một bơm cho một mạch đã biết áp suất và lưu lượng cần. Với bơm đang chạy mà lưu lượng tụt dần, câu hỏi đổi thành khoanh vùng nguyên nhân trên một cụm đã từng đạt — đường đi khác đường nghiệm thu.

Bảng đối chiếu bốn chỉ tiêu và cái mỗi chỉ tiêu trả lời

Chỉ tiêuNói lên điều gìKhông nói lên điều gì
Hiệu suất thể tíchphần lưu lượng lý thuyết thật sự đi ra cửa ra, tại một áp suấtbơm tốn bao nhiêu điện
Hiệu suất toàn phầnphần công suất trục biến thành công suất thuỷ lựcbơm ồn hay êm
Dải độ nhớt cho phépbơm sống được trong dải nhiệt nào của dầudầu trong xưởng có nằm trong dải đó không
Yêu cầu độ sạch dầuđiều kiện để ba chỉ tiêu trên còn đúng theo thời giantình trạng dầu hiện tại của mạch

Vì sao đọc chỉ tiêu ở áp suất không thì con số đẹp mà vô dụng

Bơm thuỷ lực có khe hở giữa các chi tiết chuyển động. Khe hở đó cần thiết để bơm quay được và để màng dầu hình thành. Chênh áp giữa cửa ra và cửa vào đẩy một phần dầu chảy ngược qua chính các khe hở đó — gọi là rò rỉ nội.

Rò rỉ nội gần như bằng không khi áp suất bằng không, và tăng lên theo áp suất. Vì vậy hiệu suất thể tích đo ở áp suất thấp đẹp hơn số đo tại áp suất làm việc, và con số đẹp đó không dùng để so hai bơm được. Điều kiện công bố thông số — áp suất, tốc độ quay, độ nhớt dầu — là phần phải đọc cùng con số, và các hãng công bố chúng kèm bảng thông số [1].

Nhiệt độ đi cùng chiều: dầu nóng thì độ nhớt giảm, dầu chảy qua khe hở dễ hơn, rò rỉ nội tăng thêm. Một bơm đạt chỉ tiêu lúc thử nguội có thể hụt lưu lượng vào cuối ca — và đó là lý do dải độ nhớt cho phép nằm trong bốn chỉ tiêu chứ không phải một ghi chú bên lề. Chọn nhớt theo dải nhiệt ở cấp độ nhớt ISO VG và SAE.

Mẹo sai đang lưu truyền: "bơm kêu to là sắp hỏng, bơm êm là bơm tốt". Mục trên bác lại: độ ồn của bơm chịu ảnh hưởng nặng của đường hút và của hiện tượng xâm thực, tức là của cách lắp chứ không riêng của bơm. Bosch Rexroth trình bày điều kiện đường hút và điều kiện lắp như những yêu cầu thiết kế riêng đi kèm cụm bơm [2]. Một bơm tốt lắp sai vẫn kêu; đổi bơm mà giữ nguyên đường hút thì tiếng kêu quay lại.

Ba chỉ tiêu nằm ngoài bốn cái trên mà vẫn phải hỏi

Kiểu điều chỉnh lưu lượng. Bơm lưu lượng cố định và bơm lưu lượng thay đổi được là hai bài toán chi phí khác hẳn nhau khi mạch có nhiều chế độ tải. Cách chọn theo áp suất và lưu lượng nằm ở bơm thuỷ lực: cấu tạo, thông số, cách chọn.

Tuổi thọ danh định và điều kiện kèm theo. Con số tuổi thọ chỉ có nghĩa cùng với áp suất, tốc độ và độ sạch dầu đi kèm.

Khả năng chịu áp suất đỉnh. Áp suất làm việc liên tục và áp suất đỉnh cho phép là hai con số khác nhau; mạch có tải va đập phải đọc con số thứ hai.

Bảng quyết định: nghiệm thu một bơm thuỷ lực theo thứ tự nào

Thứ tựViệc làmVì sao đặt ở bước này
1Chốt áp suất làm việc và lưu lượng thật sự cần của mạchcác chỉ tiêu sau đều phải đọc tại chính điểm làm việc này
2Đọc hiệu suất thể tích tại đúng áp suất ở bước 1đọc ở áp suất thấp cho con số đẹp mà không so được
3Đối chiếu dải độ nhớt cho phép với nhiệt độ dầu cuối cabơm đạt lúc nguội vẫn hụt lưu lượng lúc nóng
4Đối chiếu yêu cầu độ sạch dầu với cấp độ sạch mạch đang cóthiếu bước này thì ba chỉ tiêu trên xuống cấp dần
5Kiểm điều kiện đường hút trước khi kết luận về độ ồntiếng kêu thường là dấu hiệu của cách lắp
6Ghi lại lưu lượng đo được lúc nhận, kèm áp suất và nhiệt độtạo mốc gốc để vài tháng sau so lại

Khi số đo ở bước 2 không đạt mà bơm vẫn mới, nguyên nhân hay nằm ngoài bơm. Đường khoanh vùng theo triệu chứng nằm ở sự cố hệ thống thuỷ lực: chẩn đoán theo triệu chứng; kiểu mạch quyết định chế độ làm việc thật của bơm, xem mạch thuỷ lực hở và mạch kín; và khi cùng một cụm chạy ở chiều ngược lại thì nó là motor thuỷ lực, với bộ chỉ tiêu khác.

Nguồn và giới hạn

Tra ngày 24/09/2026.

Không xác định được từ bài này: ngưỡng đạt của từng chỉ tiêu, trị số hiệu suất của một bơm cụ thể, và tuổi thọ dự kiến. Ba thứ đó nằm trong ca-ta-lô của hãng làm bơm, gắn với điều kiện thử của chính hãng đó.

Bài này không xếp hạng hãng bơm và không so giá giữa các mã bơm.

Câu hỏi thường gặp

Đánh giá chất lượng bơm thuỷ lực bằng chỉ tiêu nào? Bằng bốn chỉ tiêu đọc tại áp suất làm việc: hiệu suất thể tích, hiệu suất toàn phần, dải độ nhớt cho phép, và yêu cầu độ sạch dầu. Ngoài bốn cái đó còn phải hỏi kiểu điều chỉnh lưu lượng, tuổi thọ danh định kèm điều kiện, và áp suất đỉnh cho phép.

Vì sao hiệu suất thể tích phải đọc ở áp suất làm việc? Vì rò rỉ nội qua khe hở trong bơm tăng theo chênh áp. Ở áp suất thấp, rò rỉ gần như bằng không nên con số luôn đẹp — và con số đó không dùng để so hai bơm.

Lưu lượng ghi trên nhãn có phải lưu lượng ở xưởng mình không? Không mặc nhiên. Con số đó đo ở điều kiện tham chiếu gồm áp suất, tốc độ quay và độ nhớt dầu. Phải đối chiếu ba điều kiện đó với điều kiện thật của mạch.

Bơm kêu to có phải bơm kém không? Không suy ra thẳng được. Độ ồn chịu ảnh hưởng nặng của đường hút và của xâm thực, tức của cách lắp. Kiểm đường hút trước khi kết luận về bơm.

Yêu cầu độ sạch dầu có phải khuyến nghị không? Không, nhà sản xuất công bố nó như điều kiện để các thông số còn đúng theo thời gian. Không đạt thì hiệu suất thể tích tụt dần và tuổi thọ ngắn lại.

Nên ghi gì vào biên bản nhận bơm? Ghi lưu lượng đo được kèm áp suất và nhiệt độ dầu lúc đo, cùng ngày đo. Thiếu ba thông tin đi kèm thì con số lưu lượng không so lại được về sau.

Đọc tiếp

Thuộc chuyên trang: Thủy lực – khí nén›Hệ thống thủy lực